Trung Quốc cố thoát vòng kim cô - liên minh quân sự của Hoa Kỳ

Đăng Bởi  - 

Vấn đề lớn hơn là Trung quốc muốn thay đổi trật tự địa chính trị và an ninh khu vực mà hiện Hoa Kỳ đang thống lĩnh. Ảnh TL
Vấn đề lớn hơn là Trung quốc muốn thay đổi trật tự địa chính trị và an ninh khu vực mà hiện Hoa Kỳ đang thống lĩnh. Ảnh TL

Tranh chấp chủ quyền giữa Trung quốc với các nước láng giềng chỉ là phần nổi của tảng băng chìm. Vấn đề lớn hơn là Trung quốc muốn thay đổi trật tự địa chính trị và an ninh khu vực mà hiện Hoa Kỳ đang thống lĩnh qua hệ thống các liên minh quân sự và đối tác ở châu Á. Trung quốc xem hệ thống này là phương cách mà Hoa Kỳ dùng để kiềm chế sự trỗi dậy của mình. Hệ thống liên minh này rồi đây sẽ trở thành nguyên nhân gây xung đột ngày một gia tăng giữa Hoa Kỳ và Trung quốc.
Trong khi các tranh luận qua lại giữa những diễn giả Trung quốc (TQ), Hoa Kỳ và Nhật Bản tại Đối thoại Shangri-La gây sự chú ý đặc biệt cho giới truyền thông, ít người để ý đến lời kêu gọi của tướng TQ Wang Guanzhong cho một “khái niệm an ninh mới cho châu Á”. Thực ra, ông Wang cũng chỉ lặp lại ý tưởng mà chủ tịch TQ Tập cận Bình đã vẽ ra tại Hội Nghị Thượng Đỉnh về Tương Tác và Các Biện Pháp Xây Dựng Lòng Tin lần 4 (CICA) vào ngày 21/5/2014 tại Thượng Hài.
Trong nhiều phương diện, các vận động cho một trật tự an ninh được sửa đổi theo ý muốn của TQ không phải là điều gì mới. Các quan chức TQ đã đề xướng các nguyên tắc của ý tưởng an ninh mới này vào 1997. Đến năm 2005, lãnh đạo TQ đã hé lộ những khái niệm chính, bao gồm cái gọi là “thế giới hài hoà”, và một dẫn xuất của nó là “châu Á hài hoà”, để mô tả rõ ràng hơn về một trật tự mới của thế giới và châu Á mà TQ muốn xây dựng, để thích ứng với sự vươn lên của nước này. 
Ý tưởng về một nền an ninh mới cho châu Á của Tập Cận Bình tại thượng đỉnh CICA, cũng giống như những ý tưởng mà các lãnh đạo trước của TQ ủng hộ, đề xuất việc xây dựng các mối quan hệ, các thể chế, và cấu trúc chính trị và an ninh mới, để tăng cường sự gắn kết của cả khu vực với nền kinh tế TQ. Tuy nhiên các chi tiết của ý tưởng này đều rất mơ hồ.
Trong khi các nguyên lý của cái trật tự mới mà TQ đề bạt không có gì mới, điểm khác biệt lần này các lãnh đạo TQ đã tăng cường chỉ trích hệ thống an ninh mà Hoa Kỳ đang lãnh đạo ở châu Á như một cản trở cho ý tưởng mới của họ. Cần nói rõ là các lãnh đạo TQ vẫn chưa dám chỉ mặt gọi tên Hoa Kỳ như kẻ thù của TQ. 
Ngược lại, sự cấp bách nằm sau việc vận động của TQ cho cái gọi là “quan hệ nước lớn kiểu mới”, kêu gọi sự hợp tác gần gũi giữa các cường quốc để cùng giải quyết các vấn đề gây mâu thuẫn, cho thấy một TQ đang vươn lên đã cố tránh va chạm với thế lực hiện hữu là Hoa Kỳ. Dù gì thì TQ vẫn cần sự ổn định trong khu vực để tiếp tục đà phát triển. Tuy nhiên, chắc TQ cũng ngày càng nhận ra là những nhu cầu an ninh và phát triển của mình mâu thuẫn với trật tự an ninh hiện tại.
Lo ngại an ninh
Nguyên nhân cơ bản cho những đối kháng ngày một gia tăng từ TQ có nguồn gốc sâu xa và đi vào các vấn đề cốt lõi. Chúng không phải là những lựa chọn cá nhân của lãnh đạo TQ, hoặc bắt nguồn từ những phản ứng của TQ với các tuyên bố từ lãnh đạo Mỹ, chẳng hạn như về việc tái cân bằng châu Á, mặc dù những phát biểu kiểu này thường làm người TQ tức giận. 
Người TQ đã chỉ trích Hoa Kỳ từ lâu với những danh từ như “chủ nghĩa bá quyền” hay “não trạng chiến tranh lạnh”, nhưng trước đây những chỉ trích thường chỉ nhắm vào những chính sách cụ thể, ví dụ như việc Hoa Kỳ bán vũ khí cho Đài Loan. 
Ngược lại, những chỉ trích mới nhất nhắm vào các yếu tố mang tính cơ cấu, làm cản trở tham vọng an ninh và phát triển của TQ. Trong con mắt của các lãnh đạo TQ, những trở ngại về cơ cấu đó bắt nguồn từ hệ thống liên minh và đối tác an ninh châu Á của Hoa Kỳ. 
Tại thượng đỉnh CICA, Tập chỉ trích rằng các liên minh như vậy hoàn toàn không có lợi cho an ninh khu vực. Ông ta nói: “Việc tăng cường các liên minh quân sự với các bên thứ ba sẽ là điều bất lợi cho an ninh chung trong vùng”. Các nhận xét từ những cơ quan ngôn luận nhà nước thậm chí còn thẳng thắn hơn. 
Một bài báo điển hình đăng trên Tân hoa xã ngày 21/5 nhận định rằng việc tăng cường các liên minh của Hoa Kỳ "sẽ không mang lại điều gì ngoài việc gia tăng tình trạng bất ổn hiện nay". Có 3 lý do dẫn đến quan điểm này của TQ: (i) Hoa Kỳ sử dụng trật tự hiện hành để kiềm chế TQ; (ii) bản chất của các liên minh hiện hành khuyến khích các nước khác thách thức TQ về chủ quyền và các vấn đề an ninh; (iii) hệ thống liên minh hiện hành không đảm bảo an ninh lâu dài cho khu vực.
Nỗi sợ hãi rằng Hoa Kỳ muốn kiềm chế TQ là sâu sắc và mạnh mẽ. TQ xem việc Hoa Kỳ thúc đẩy các giá trị dân chủ tự do, nhân quyền, và văn hóa phương Tây như một phần của kế hoạch hạn chế sức mạnh TQ. Hơn nữa, Bắc Kinh cũng thừa biết là trong quá khứ Hoa Kỳ đã từng thành công trong việc kích hoạt mạng lưới đồng minh để đánh bại các tham vọng bá chủ ở châu Âu hay châu Á. Sự căng thẳng gia tăng liên tục giữa TQ và Hoa Kỳ, trên các vấn đề có tính chiến lược từ mạng internet hay biển Đông Nam Á, hay trong quyết định của Hoa Kỳ về tái cân bằng chiến lược, làm TQ cảm thấy mối đe dọa là thực sự và cấp bách.
Dường như các nhà lãnh đạo TQ không bị thuyết phục bởi các tuyên bố từ Washington rằng Hoa Kỳ không có ý định hoặc mong muốn kiềm chế TQ. Nhưng ngay cả khi lãnh đạo Hoa Kỳ có thể thuyết phục để Bắc Kinh tin vào điều đó, sự tồn tại của các cấu trúc an ninh như vậy sẽ cho phép Hoa Kỳ ngay lập tức kiềm chế TQ bất cứ lúc nào khi quan hệ hai bên trở nên xấu đi.
TQ cũng cho rằng hệ thống liên minh của Hoa Kỳ là một mối đe dọa đối với an ninh và chủ quyền của mình. Điều này đặc biệt đúng khi Hoa Kỳ liên minh với các nước có quan hệ đối kháng với TQ. Bắc Kinh đương nhiên sẽ cảm thấy liên minh của Hoa Kỳ với Nhật Bản khó chịu hơn là với các nước có quan hệ ổn định hơn với TQ như Thái Lan.
Trong mắt của TQ, liên minh với Hoa Kỳ sẽ khuyến khích các nước nhỏ thách thức Bắc Kinh trong các tranh chấp chủ quyền, đe dọa sự bất ổn và tiềm năng xung đột. Xung đột với các nước láng giềng là đồng minh của Hoa Kỳ như Nhật Bản và Philippines cũng có thể leo thang thành một cuộc chiến tranh mà Hoa Kỳ sẽ bị lôi cuốn vào, một khả năng mà Bắc Kinh lo ngại sẽ xảy ra. 
Phản ánh những lo lắng trên, một bài xã luận trên Tân Hoa xã cay đắng cho rằng "Hoa Kỳ đã không có các biện pháp hiệu quả để ngăn chặn các đồng minh của mình thách thức TQ". Nỗ lực của Hoa Kỳ khi trấn an các đồng minh bằng chính sách tái cân bằng và chỉ trích TQ "kích động bất ổn" càng làm cho Bắc kinh cảm thấy bất an hơn.
TQ cũng đặt nghi vấn về hiệu quả của cấu trúc an ninh do Mỹ dẫn đầu trong việc giải quyết các mối đe dọa truyền thống và phi truyền thống. Phương tiện truyền thông TQ thường xuyên chỉ trích các nỗ lực gây bất ổn của Hoa Kỳ với Bắc Triều Tiên thông qua hiện diện quân sự và các cuộc tập trận, và kêu gọi đối thoại thông qua các cuộc đàm phán sáu bên.
Các bài viết trên báo chí TQ cũng đặt câu hỏi về khả năng của Hoa Kỳ và các đồng minh trong việc quản lý các mối đe dọa phi truyền thống. Liên quan đến tội phạm xuyên quốc gia, khủng bố, và các mối đe dọa khác, một bài báo gần đây trên Tân Hoa Xã tuyên bố rằng Hoa Kỳ đã "không tạo được niềm tin rằng nước này có thể, hoặc ít nhất là sẵn sàng, bảo vệ lợi ích của người châu Á từ các thảm họa".
Những chỉ trích từ TQ cho rằng hệ thống liên minh và quan hệ đối tác của Hoa Kỳ là quá hạn chế về khả năng và hạn hẹp về mục tiêu để có thể giải quyết hiệu quả sự đa dạng và phức tạp của các vấn đề an ninh châu Á.
Những bất bình kể trên của TQ đã dẫn đến một điểm lớn hơn. Trong mắt của Bắc Kinh hiện nay, kiến ​​trúc an ninh của Mỹ đã lỗi thời và không còn hữu ích cho sự ổn định khu vực, chính sự ổn định mà trước đây từng cần thiết cho sự phát triển của TQ. 
Theo TQ, kiến trúc này đang mất khả năng đảm bảo an ninh lâu dài, và chính nó giờ đây trở thành một căn nguyên gây hiểm hoạ. Theo lời của một bài bình luận trên Tân Hoa Xã, những "hứa hẹn cho một châu Á hòa bình sẽ vô nghĩa khi cấu trúc an ninh chiến tranh lạnh này vẫn còn tồn tại."
Một trở ngại mang tính cơ cấu?
Điều làm cho sự đối kháng của TQ [nhắm vào hệ thống liên minh và quan hệ đối tác của Hoa Kỳ] càng mạnh mẽ hơn là do những quan ngại như vậy còn được thúc đẩy bởi những nỗ lực của TQ trong việc duy trì tăng trưởng kinh tế nội địa. Hiểu được quan điểm của TQ cho rằng an ninh là cần thiết cho sự phát triển của đất nước, và rằng an ninh nội địa và quốc tế là không thể tách rời, sẽ giúp ta hiểu được nguồn gốc của những chỉ trích từ TQ nhắm vào của hệ thống liên minh của Hoa Kỳ. 
Tại một cuộc họp của Ủy ban An ninh Quốc gia (NSC) mới được thành lập, Tập nói: "An ninh là điều kiện để phát triển. Chúng ta tập trung vào an ninh TQ, nhưng cũng quan tâm đến an ninh chung (với các nước khác)". Thông qua NSC và các nhóm cố vấn nhỏ khác mới được thành lập, Tập tìm cách ban hành những thay đổi mang tính hệ thống và cơ cấu, nhằm tạo điều kiện cho TQ phát triển toàn diện, và cải thiện an ninh cả trong lẫn ngoài nước (Tân Hoa Xã , 15/4). 
Cho đến gần đây, các nhà quan sát cũng chỉ dựa trên các thay đổi mang tính cơ cấu và hệ thống này để giải thích các chính sách đối nội. Nhưng bài phát biểu tại CICA xác nhận rằng các chỉ thị tương tự cũng tác động tới chính sách đối ngoại của TQ.
Lãnh đạo TQ đã nhiều lần lập luận rằng sự phát triển của nước này phụ thuộc vào an ninh nội địa và quốc tế. Là một quốc gia định hướng xuất khẩu, tăng trưởng kinh tế của TQ phụ thuộc nhiều vào hiệu suất của nền kinh tế toàn cầu. Với GDP dự kiến ​​tăng trong những năm tới, châu Á đã sẵn sàng để dẫn dắt nền kinh tế toàn cầu, điều ​​sẽ giúp TQ tăng trưởng kinh tế của nước mình và thịnh vượng. Phần lớn tăng trưởng kinh tế toàn cầu trong tương lai được dự kiến ​​sẽ xảy ra ở châu Á. 
Theo ước tính, một phần ba thương mại của châu Á vào năm 2020 là giữa các nước trong vùng. Điều này làm cho hòa bình và ổn định ở châu Á là điều then chốt cho tiềm năng kinh tế của khu vực. 
Như một bài bình luận trên báo Nhân dân của TQ ra ngày 11/5 nói: "những bất ổn gây cản trở và làm chậm phát triển kinh tế, chúng cũng làm chậm quá trình hội nhập thương mại và đà tăng trưởng kinh tế. Và việc đảm bảo tiềm năng kinh tế của châu Á đang ngày càng trở nên cấp thiết để đảm bảo sự thịnh vượng cho mọi công dân TQ.”
Bởi vì sự thịnh vượng của TQ sẽ ngày càng không thể tách rời với sự thịnh vượng của cả khu vực, TQ đang nỗ lực để kiểm soát nhiều hơn các điều khoản của an ninh khu vực. Đối với TQ, việc giao phó sự thịnh vượng và an ninh cho Hoa Kỳ và các đồng minh là điều không chấp nhận được.
Sắp xếp lại trật tự khu vực
Bắc kinh đã theo đuổi chiến lược dùng phát triển kinh tế để duy trì an ninh trong nước và quốc tế; ngược lại an ninh cũng cho phép TQ duy trì tăng trưởng. Tại hội nghị thượng đỉnh CICA, Tập Cận Bình cho biết: "Phát triển là nền tảng cho an ninh". 
Thật vậy, ngay từ đầu năm 1997, báo cáo của đại hội Đảng lần thứ 15 ĐCSTQ đã nói rằng "phát triển" là "chìa khóa để giải quyết tất cả các vấn đề của TQ". Hãy cùng phân tích kỹ hơn khái niệm cho rằng phát triển là cách thức mà TQ dùng để giải quyết các mối đe dọa về an ninh. 
Theo cách dùng từ của lãnh đạo TQ, "phát triển" ở đây có nghĩa là áp dụng một cách có tính toán các nguồn lực dồi dào của TQ để thay đổi các hiện trạng kinh tế, chính trị và an ninh từ đó đạt được các quyền lợi về an ninh, ổn định, lợi ích kinh tế và uy tín quốc gia. 
Trong ngôn từ của ĐCSTQ, đây là một quá trình mang lại "thay đổi hiệu xuất từ một trạng thái cả về chất và lượng cho tiến bộ xã hội" và do đó "mang lại lợi ích cho người dân TQ". Trong khi khái niệm này lúc đầu chủ yếu áp dụng cho kinh tế, “phát triển” giờ đây cũng bao gồm các chính sách và hành động nhắm vào các vấn đề chính trị, xã hội, hành chính, và các dạng thay đổi "tiến bộ" khác.
Tranh chấp chủ quyền giữa TQ với các nước láng giềng, như với Việt Nam liên quan đến giàn khoan Hải Dương 981, với Nhật Bản trên quần đảo Senkaku/Điếu Ngư, và với Philippines trong biển Đông Nam Á, đối với các lãnh đạo TQ chỉ là phần nổi của một tảng băng chìm - một vấn đề lớn hơn: đó là sự thay đổi trật tự địa chính trị và an ninh khu vực bởi một thực thể kinh tế mới. 
TQ cho rằng nhiều đặc trưng của trật tự hiện thời là di sản của một giai đoạn mà trong đó Hoa Kỳ có được các ưu thế áp đảo về kinh tế, chính trị và quân sự so với khu vực, những thứ mà Hoa Kỳ đang mất dần ưu thế, đặc biệt là trong kinh tế.
Cho nên với TQ, giải pháp lâu dài nhất không phải là việc "giải quyết" các vấn đề tranh chấp cụ thể, mà nằm ở sự “phát triển” toàn diện các trật tự mới về chính trị, an ninh, và xã hội để phù hợp với một thực tế mới là TQ đang nắm sức mạnh về kinh tế. 
Theo nghĩa rộng, hội nhập khu vực được dùng như một phương cách tương tự như cách mà TQ giải quyết các tình trạng bất ổn trong nước, trong đó nhà cầm quyền tìm cách giải quyết nguồn gốc của bất ổn thông qua cách tiếp cận ưu tiên cho “phát triển”. 
Trong cả hai trường hợp, các nguồn lực kinh tế dồi dào đã mang đến cho TQ một sức mạnh đáng kể, để vừa dụ dỗ vừa áp bức và sau cùng buộc các bên đối kháng phải chấp nhận theo ý mình. Theo một bài bình luận trên báo Nhân dân ngày 20/5, thì "Phát triển là chiến lược để điều trị mất an ninh; nó giúp loại bỏ các yếu tố nguồn gốc gây bất ổn ".
“Phát triển” khi được sử dụng như một chiến lược an ninh vùng cũng cho phép TQ đối phó với Hoa Kỳ theo một cách ít có khả năng gây ra chiến tranh nhất. TQ hy vọng sẽ từng bước thay thế các yếu tố của trật tự cũ bằng một trật tự an ninh mới bị ảnh hưởng mạnh bởi TQ. 
Bằng cách phô trương sức mạnh và tính hiệu quả, Bắc Kinh hy vọng rằng theo thời gian TQ sẽ làm cho vai trò của Mỹ là không cần thiết nữa. Cách tiếp cận của TQ với sự phát triển trật tự an ninh vùng do đó phản ánh các yếu tố của cả hai mặt: tiếp thu và xét lại, đặc trưng qua những nỗ lực để: (i) định hình lại sự hợp tác với Hoa Kỳ; (ii) tận dụng sức mạnh kinh tế để định hướng lại các mối quan hệ trong khu vực; (iii) tiếp thu một cách chọn lọc các yếu tố của trật tự hiện hành; (iv) xây dựng và củng cố các tổ chức và cơ chế có lợi cho TQ; và (v) phát huy năng lực và khả năng can thiệp quân sự.
(i) Định hình lại sự hợp tác với Hoa Kỳ. TQ sẽ muốn xây dựng một mối quan hệ ổn định với Hoa Kỳ với điều kiện Hoa Kỳ chấp nhận nhiều hơn các đòi hỏi quyền lợi từ TQ. Hợp tác quân sự với Hoa Kỳ chứng tỏ vị thế của TQ như một cường quốc hàng đầu châu Á, nhưng cũng trấn an các nước trong khu vực là Bắc Kinh không muốn xung đột với siêu cường của thế giới. TQ cũng thúc đẩy hợp tác song phương để thuyết phục Hoa Kỳ kiềm chế các đồng minh.
(ii) Tận dụng sức mạnh kinh tế để định hướng lại các mối quan hệ trong khu vực. Là trung tâm của kinh tế châu Á, Bắc Kinh có những ảnh hưởng đáng kể mà nước này có thể sử dụng để làm tăng sự phụ thuộc lẫn nhau trong khu vực, và tăng cường các quan hệ song phương vì lợi ích thương mại và kinh tế. TQ dùng cách này để dụ dỗ các quốc gia trong khu vực để ủng hộ cho việc TQ xây dựng các tổ chức hợp tác mà trong đó TQ đóng vai trò lãnh đạo lớn hơn. Các mối quan hệ như vậy cũng làm cho các quốc gia khác trở nên lệ thuộc hơn và phải trả giá đắt hơn khi có tranh chấp với TQ.
(iii) Tiếp thu một cách chọn lọc các yếu tố của trật tự hiện hành. TQ tiếp tục tham gia vào nhiều thể chế và tổ chức do Hoa Kỳ lãnh đạo. Một khi các tổ chức này không đặt ra các mối đe dọa trực tiếp đến lợi ích của TQ, Bắc Kinh có ít động cơ để kêu gọi bãi bỏ chúng. Trái lại, TQ có lợi khi tham gia và góp phần định hình các kế hoạch và hoạt động của những tổ chức đó. Ở cấp độ khu vực, có thể thấy các tổ chức kiểu này như Hợp tác Kinh tế Châu Á Thái Bình Dương (APEC), Hội nghị Thượng đỉnh Đông Á, đối thoại Shangri La, v.v..
(iv) Xây dựng và củng cố các tổ chức và cơ chế có lợi cho TQ. Tuy nhiên cùng lúc, TQ cũng đang cố gắng thiết lập và củng cố các tổ chức và cơ chế mới về an ninh và kinh tế khu vực, mà Bắc kinh hy vọng qua đó chứng minh khả năng của TQ trong việc mang lại các lợi ích kinh tế, khả năng lãnh đạo, và thúc đẩy một hình thức an ninh lâu dài cho khu vực. Đàm phán 6 bên, Tổ chức Hợp tác Thượng Hải, và CICA minh họa cách tiếp cận này. TQ xem các diễn đàn đối thoại này như một cách thức để củng cố cho mạng lưới các tổ chức kinh tế đang lên mà trong đó TQ thống trị, như Hành lang kinh tế Bangladesh-Ấn Độ-Myanmar-TQ, Hành lang kinh tế TQ-Pakistan, Con đường tơ lụa trên biển thế kỷ 21, Khu vực mậu dịch tự do TQ-ASEAN, và Tổ chức đối tác kinh tế toàn diện của khu vực.
(v) Phát huy năng lực và khả năng can thiệp quân sự. Việc tăng cường quân sự của TQ hỗ trợ cho các nỗ lực tăng cường an ninh và nâng cao khả năng “phòng thủ”. Chiến lược này nhằm  làm nản chí các nước phản đối quyền lực của TQ, vì phải tăng chi phí quân sự và đối diện mức độ mạo hiểm cao hơn khi có xung đột với TQ. Chiến lược này cũng tạo ra một hàng rào chống lại khả năng xâm nhập của Hoa Kỳ. Điều này cũng làm suy giảm khả năng can thiệp quân sự của Hoa Kỳ, đặc biệt, nó làm xói mòn niềm tin mà các nước trong khu vực đặt vào Hoa Kỳ như một đối trọng sức mạnh của TQ.
Lãnh đạo TQ xem việc củng cố ảnh hưởng kinh tế, ngoại giao, văn hóa và an ninh là chiến lược lâu dài nhất để thúc đẩy tiềm năng kinh tế của châu Á, và nâng cao mức sống cho người dân TQ. Tầm quan trọng của chiến lược củng cố ảnh hưởng này có thể thấy qua việc tổ chức Diễn Đàn Đỉnh Cao về Ngoại giao Lân Bang gần đây. Vì những lý do tương tự, các lãnh đạo TQ cũng xác định ngoại giao với các lân bang là một "hướng ưu tiên" cho chính sách ngoại giao TQ (báo Nhân dân 10/9).
Nguy cơ từ những khác biệt chiến lược
Lãnh đạo TQ tìm cách để thực hiện các cải cách cơ cấu cho các trật tự trong nước và quốc tế để duy trì tăng trưởng kinh tế và thúc đẩy sự phục hưng của đất nước. Các chỉ thị trong tài liệu chiến lược cao cấp như báo cáo đại hội Đảng lần thứ 18, nghị quyết Hội nghị toàn thể lần ba, và việc thành lập các nhóm lãnh đạo trung ương tập trung vào cải cách hệ thống, đã cho thấy tính cấp thiết của vấn đề này đối với lãnh đạo TQ.
Vì những cải cách này được xem là then chốt cho sự phát triển liện tục và sự sống còn của TQ, Bắc Kinh khó có thể từ bỏ những đòi hỏi này. Ngược lại, sự bắt buộc phải duy trì tăng trưởng có thể sẽ làm tăng áp lực để nhận ra những thay đổi này theo thời gian. 
Những lời chỉ trích cay nghiệt nhắm vào cấu ​​trúc an ninh của Hoa Kỳ từ bài phát biểu của Tập Cận Bình tại hội nghị thượng đỉnh CICA và những bình luận tương tự từ báo chí TQ có thể chỉ là màn khởi đầu nếu như TQ vẫn còn thấy thất vọng trong nỗ lực tổ chức lại trật tự khu vực phù hợp với các ưu tiên chiến lược của mình.
Do đó hệ thống liên minh và quan hệ đối tác châu Á hiện nay của Hoa Kỳ sẽ ngày càng trở thành nguồn gốc gây tranh chấp với TQ. Các nhà hoạch định chính sách cao cấp của Hoa Kỳ đã nói rõ rằng Hoa Kỳ có lợi ích chiến lược hợp pháp và quan trọng ở châu Á. Hơn nữa, Hoa Kỳ vẫn còn là một sức mạnh đáng kể thống trị trong khu vực, mặc dù một số lợi thế tương đối đã giảm trong những năm gần đây. 
Hoa Kỳ cũng đã tái khẳng định giá trị chiến lược của các liên minh cũng như tầm quan trọng trong việc bảo vệ lợi ích của các đồng minh. Điều này khiến TQ, Hoa Kỳ, và các nước đồng minh của Hoa Kỳ luôn phải đối diện với các quyết định ngày càng phức tạp và khó khăn. Nếu muốn làm vừa lòng Bắc Kinh, Hoa Kỳ sẽ buộc phải chấp nhận làm suy yếu hoặc định nghĩa lại hệ thống liên minh của mình để thích ứng với các đỏi hỏi về an ninh của TQ. 
Điều này có thể gây bất ổn nghiêm trọng khi các quốc gia nhỏ trong vùng nhận ra họ phải có hành động để tự bảo vệ lợi ích. Nó cũng làm suy yếu đáng kể ảnh hưởng của Hoa Kỳ trong một khu vực có tầm quan trọng chiến lược với tương lai của nền kinh tế Hoa Kỳ. Ngược lại, đứng về phe các đồng minh lại đòi hỏi Hoa Kỳ phải có một sự sẵn sàng lớn hơn để đối đầu với TQ trong tranh chấp chủ quyền và các vấn đề khác.
Điều này có nguy cơ làm xói mòn mối quan hệ Hoa Kỳ-TQ và cũng làm tăng khả năng gây bất ổn trật tự trong khu vực. TQ và Hoa Kỳ và các đồng minh của Hoa Kỳ sẽ cần có những hoạch định chính sách sáng tạo để cân bằng các quyền lợi mâu thuẫn nhau kiểu như vậy, và đảm bảo hòa bình lâu dài và ổn định cho khu vực. 
Timothy R. Health
 Liêm Nguyễn lược dịch theo The Diplomat/MTG

Popular posts from this blog

Những tên làng kỳ lạ nhất VN