Hồi ký Lý Quý Chung: “Bà con hãy ở lại, quê hương của ta ở đây”

Đăng Bởi  - 
Bà Nguyễn Thị Bình tại lễ ký kết hiệp định Paris về Việt Nam 27.3.1973
Bà Nguyễn Thị Bình tại lễ ký kết hiệp định Paris về Việt Nam 27.3.1973

“Bà con hãy ở lại. Mồ mả ông bà của ta ở đây, quê hương của ta ở đây”. Những lời kêu gọi này tôi nói gần như trong nước mắt. Những ngày sắp tới chắc chắn không có tắm máu như những lời đồn đãi!
Nhưng cuối cùng chính phủ Dương Văn Minh chính thức lúc đầu chỉ gồm bốn thành viên: Tổng thống Dương Văn Minh, phó tổng thống Nguyễn Văn Huyền, thủ tướng Vũ Văn Mẫu và tổng trưởng Bộ Thông tin là tôi.
Việc tôi được bổ nhiệm làm tổng trưởng thông tin trước khi công bố thành phần đầy đủ của nội các xuất phát từ một nhu cầu đặc biệt của tình hình lúc bấy giờ. Ngày 26-4-1975, quốc hội biểu quyết bầu ông Minh làm tổng thống, nhưng ông Minh dự định mãi đến ngày 30-4-1975 mới trình diện thành phần chính phủ. 
Như thế có một “khoảng trống chính trị” đến bốn ngày. Các đài truyền hình và phát thanh Sài Gòn, nhất là đài chiến tranh chính trị quân đội, tiếp tục bình luận và phát nhạc chống cộng như lúc ông Thiệu, ông Hương vẫn nắm quyền. 
Tôi đã chủ động trình bày với ông Minh và ông Mẫu về tình hình này: cần chấm dứt ngay các hoạt động tuyên truyền chống cộng và hiếu chiến trên truyền hình và phát thanh, nếu không đường lối hòa bình và dự định hòa giải hơn của chính phủ mới sẽ phá sản trước khi ra mắt. 
Trong ngày 27-4-1975, dù chưa được chính thức bổ nhiệm vào bộ Thông tin (lúc đó còn có tên ‘Bộ thông tin và chiêu hồi”) tôi đã chủ động gặp ông Lê Vĩnh Hòa, tổng giám đốc đài phát thanh và truyền hình, tại nhà riêng của ông tại đường Tự Do (nay là Đồng Khởi), nơi vợ ông có một cửa hàng bán đồ cổ, để vận động ông ra lệnh thay đổi giọng điệu của cả hai đài thuộc quyền của ông. 
Tôi đến nhà ông vào lúc khoảng 01 giờ trưa, ông đang ăn cơm với vợ. Tôi tự giới thiệu mình và cho biết tôi sẽ được tổng thống Dương Văn Minh chính thức bổ nhiệm trong ngày mai làm tổng trưởng Thông Tin. 
Nhưng tôi cần gặp ông ngay hôm nay vì tình thế đòi hỏi phải có một thay đổi hoàn toàn về nội dung tuyên truyền trên hai đài truyền hình, truyền thanh, càng sớm càng tốt – về đường lối kết thúc chiến tranh và đặc biệt là thái độ của chính phủ mới đối với quân giải phóng. 
Tôi nói “Ông có quyền không nghe tôi vì tôi chưa chính thức là tổng trưởng Thông Tin, nhưng tôi tha thiết yêu cầu ông, do đòi hỏi của tình thế cấp bách, nên có một quyết định có lợi cho cái chung ngay từ bây giờ”.
Tổng giám đốc Lê Vĩnh Hòa không cần tôi nói gì thêm, đã  đồng ý hợp tác ngay. Ông ra lệnh bỏ tất cả loại nhạc chống cộng và ngưng phát các bài, tin, mang tính chống cộng và cổ xúy tiếp tục chiến tranh. Tôi cũng điện thoại trực tiếp cho trung tướng Trần Văn Trung, tổng cục trưởng Tổng cục chiến tranh chính trị là người đang chỉ  đạo đài quân đội. Tướng Trung chỉ hứa nhưng không chấp hành.
Cũng trong ngày 26-4-1975, thừa lệnh tổng thống Dương Văn Minh, tôi hẹn gặp cố vấn chính trị tòa đại sứ Pháp Pierre Brochand để vận động tổng thống Pháp Giscard D’Estaing có một tuyên bố chính thức trên hệ thống truyền thông Pháp Xẹc Tây, tức Cercle Sportif Saigonais (CSS), được sắp xếp như một cuộc gặp tình cờ. Địa điểm nói chuyện: hồ bơi của CSS!
Khi hai chúng tôi đang đứng ở dưới nước thì Thomas Polgar, “xếp” CIA tại miền Nam nằm dài phơi nắng cạnh hồ bơi, cách chúng tôi không bao xa. Tôi chưa từng gặp Polgar nên không biết sự hiện diện của ông ta. Chính Brochand nói khẽ cho tôi biết sự có mặt của Polgar.
 Nguyễn Cao Kỳ và Dương Văn Minh
Tôi mở đầu cuộc đối thoại: “Ngày mai tôi mới được bổ nhiệm là tổng trưởng Thông tin nhưng hôm nay tôi được tổng thống Dương Văn Minh cử làm đại diện chính thức của ông, để thông qua tòa đại sứ Pháp, yêu cầu tổng thống Pháp Giscard D’Estaing có lời tuyên bố ủng hộ chính phủ mới cùng nỗ lực tìm kiếm hòa bình của chính phủ này”. 
Ông Pierre Brochand trả lời rằng ông sẽ báo cáo ngài đại sứ và sẽ chuyển ngay lời yêu cầu này về Paris và ông hi vọng tổng thống Pháp sẽ lên tiếng vào ngày mai. Tôi không được nghe trực tiếp lời tuyên bố của tổng thống Pháp ngày hôm sau vì lúc đó quá bận rộn, nhưng tôi được biết yêu cầu của tổng thống Dương Văn Minh đã được chính phủ Pháp đáp ứng. 
Rõ ràng đường lối của Pháp trong thời điểm này là ủng hộ chính phủ Dương Văn Minh và muốn chính phủ này có một vai trò trong kết thúc chiến tranh ở Việt Nam. Dĩ nhiên Pháp hi vọng, trong hoàn cảnh này, họ sẽ có một vị trí đặc biệt ở Việt Nam.
Người Mỹ, một mặt hi vọng người Pháp thành công trong nỗ lực của mình để họ có thêm thời gian thực hiện kế hoạch rút khỏi Việt Nam, nhưng mặt khác người Mỹ lại nhìn một cách không thiện cảm các hoạt động của Pháp, cho rằng người Pháp muốn phục hồi thời thuộc địa của họ ở Đông Dương. 
Trong quyển “Interval Decent” mà cựu nhân viên CIA Frank Snepp viết về sự kết thúc chiến tranh Việt Nam đã vạch ra Pierre Brochand là nhân viên “phòng nhì” (Deuxieme Bureau) tương đương với CIA của Mỹ. Frank Snepp mỉa mai Piere Brochand muốn trở thành một Kissinger thứ hai.
Có thể thấy đây là lần đầu tiên và duy nhất, tôi bàn với Piere Brochand một vấn đề chính trị cụ thể. Trước đó quan hệ giữa Pierre và tôi chủ yếu là bạn bè, dù  đôi khi có đề cập một chuyện thời sự nào đó nhưng không đi xa hơn sự trao đổi bình thường giữa hai người bạn.
Piere Brochand đẹp trai, ăn mặc lịch sự và luôn hợp thời trang, quan hệ bạn bè khá cởi mở nhưng rất thận trọng khi đề cập các vấn đề nội bộ của người Việt Nam. Ông là người Pháp đáng ghét nhất đối với ông Thiệu vì ông Thiệu cho rằng chính Brochand là người thúc đẩy và hỗ trợ các nhóm hoạt động chính trị đối lập thuộc thành phần thứ ba.
… Ngày 28-4-1975, ông Minh chính thức cử tôi làm tổng trưởng Bộ Thông tin dù chưa chính thức công bố nội các. Quyết định bổ nhiệm tôi do thủ tướng Vũ Văn Mẫu ký. 
Cũng như Bộ Quốc phòng dự định giao cho một người chẳng biết gì về quân sự - giáo sư đại học Bùi Tường Huân – Bộ Thông tin giao cho tôi, một người hiểu biết rất ít về người cộng sản và càng không có khả năng đảm trách “cuộc chiến ý thức hệ” mà thường bộ trưởng bộ thông tin của các chế độ trước đây ở miền Nam luôn phải tiến hành. 
Ông Dương Văn Minh cũng biết rõ điều đó và rõ ràng ông có chủ đích khi chọn tôi là tổng trưởng Bộ Thông tin, bởi tôi hoàn toàn có khả năng đóng góp vào mục tiêu tìm kiếm hòa bình của chính phủ Dương Văn Minh.
Sáng 29-4-1975 tôi đến Bộ Thông tin Chiêu hồi trên đường Phan Đình Phùng (nay là Nguyễn Đình Chiểu) ở gần ngã tư Công Lý (nay là Nam Kỳ Khởi Nghĩa), nhận nhiệm vụ mới của mình. 
Lúc ấy cái tên của bộ giao cho tôi còn là Bộ Thông tin Chiêu hồi. Việc đầu tiên của tôi khi đến đây là chỉ thị cho người trợ lý mới của tôi là Lưu Trường Khương đổi tên bộ này thành “Bộ Thông tin”, bỏ hai chữ “Chiêu hồi”. 
Anh Lưư Trường Khương cùng học một khóa ở Học viện Quốc gia hành chánh với tôi. Khi tốt nghiệp anh bị Trung ương tình báo trưng dụng mặc dầu anh không muốn về làm việc ở đây. Sau đó dù đã về đây nhưng Khương vẫn tìm cách vận động, qua nhiều người có thế lực trong chính quyền, để được rời khỏi chỗ này. 
Cuối cùng anh phải chấp nhận về bộ Dân vận Chiêu hồi (sau này mới đổi tên Thông tin Chiêu hồi) thời Hoàng Đức Nhã để thoát khỏi một ngành hoàn toàn không phù hợp với tánh tình anh. 
Ngay khi còn làm ở Trung ương tình báo, thỉnh thoảng Khương đến thăm tôi và tiết lộ cho biết anh bị cấp trên giao nhiệm vụ theo dõi tôi. Anh nói: “Có lúc tôi đứng hàng giờ bên kia đường nhà ông. Tôi cảm thấy hết sức nhục nhã…”. 
Về bộ Dân vận Chiêu hồi, Nhã giao cho Khương làm đại diện vùng 4, tức miền Tây Nam Bộ.
Ký giả ăn mày - Ảnh trích trong "Hồi Ký Không Tên" của nhà báo Lý quý Chung  
Không có ai chỉ thị cho tôi đổi tên Bộ Thông tin Chiêu hồi, kể cả tổng thống Dương Văn Minh hay thủ tướng Vũ Văn Mẫu. Tôi tự động làm việc này. 
Trong buổi họp đầu tiên và duy nhất tại văn phòng tôi ở Bộ Thông tin, với tư cách là tổng trưởng Thông tin tôi còn chỉ đạo cho tất cả các bộ phận trực thuộc và địa phương từ nay không gọi Việt cộng nữa mà là “quân Mặt Trận Dân Tộc Giải Phóng Miền Nam”, gọi Nguyễn Hữu Thọ và Chính Phủ Cách Mạng Lâm Thời Miền Nam Việt Nam. 
Để tránh phản ứng điên cuồng của những phần tử chống cộng quá khích, khi giải thích lý  do về những sửa đổi này, tôi đã nói rằng vì chính phủ Dương Văn Minh chủ trương hòa bình nên nhất thiết phải dùng chính danh khi nói về bên kia.
Giữa phiên họp, Lưu Trường Khương đến sau lưng tôi hỏi nhỏ vào tai “Ông ở lại hay đi?”. Tôi quay đầu lại trả lời Khương: “Mình ở lại”. Khương nói tiếp: “Dứt khoát như thế nhé. Mình cũng sẽ không đến chỗ hẹn của Mỹ để được bốc đi vào lúc 15 giờ. Mình cũng ở lại.” 
Địa điểm mà Khương được “bốc”  đi là địa điểm dành riêng cho các nhân viên tình báo.
Trước đó ba hôm (26-4-1975) từ Dinh Hoa Lan về nhà, tôi được Quỳnh Nga, vợ tôi, cho biết anh chàng thanh niên người Mỹ được tôi thuê dạy Anh văn tại nhà mới hai tháng qua (được anh Dương Văn Ba giới thiệu) có mang đến nhà một giấy giới thiệu của người Mỹ dành cho bảy người trong nhà tôi di tản bằng phương tiện máy bay. 
Bảy người là đúng nhân số gia đình tôi: Hai vợ chồng và năm đứa con. Vợ tôi nhờ anh Nguyễn Hữu Thái (đang lánh nạn trong nhà tôi) phiên dịch lại với anh thanh niên Mỹ là gia đình tôi không có ý định di tản. 
Vợ tôi kể lại: “Em nói cảm ơn anh ta và đã trả lại tờ giấy. Em bảo chồng tôi không có ý định rời quê hương”. 
Tôi rất tán đồng quyết định của vợ. Về anh chàng thanh niên Mỹ này, có dịp đọc bản thảo hồi ký của anh Dương Văn Ba, tôi mới nhớ lại tên anh là Peter Porr đến dạy Anh văn cho anh Ba qua sự giới thiệu của nhà báo Mỹ phản chiến John Spragens.
Peter Porr là giảng viên Đại học Văn khoa Sài Gòn. Tòa đại sứ Mỹ có chủ trương ưu tiên di tản người Mỹ và tiếp đó là những viên chức cao cấp của chính quyền Sài Gòn cùng những người đã hợp tác với họ trong ngành tình báo và các cơ quan của họ tại miền Nam. 
Ở mỗi khu vực, họ đều giao cho một người của họ lập danh sách và tập hợp để đưa ra sân bay tránh những cản trở của giới chức trách và an ninh của chính quyền Sài Gòn. Có lẽ Peter Porr được giao lôi kéo một số nhân vật chung quanh ông Dương Văn Minh. Với hai trường hợp mà tôi được biết (anh Ba và tôi) thì Peter Porr đều thất bại!
Sau 30-4-1975, Lưu Trường Khương đi học tập cải tạo. Lúc này vì hoàn cảnh tôi không biết được tin tức. Nghe đâu Khương vẫn lạc quan, sau thì có tin anh qua đời vì bị  đau ruột thừa nhưng không được phát hiện kịp thời...
... Trở lại ngày 9-4-1975, sau phiên họp tại văn phòng bộ, tôi đến đài truyền hình cố gắng thuyết phục đồng bào không di tản ồ ạt. 
Theo yêu cầu của tôi, sinh viên Huỳnh Tấn Mẫm người vừa được tân tổng giám đốc cảnh sát Triệu Quốc Mạnh (cũng là một đảng viên cộng sản nhưng lúc ấy chưa lộ) trả tự do theo lệnh ông Minh cũng có mặt tại đài truyền hình. 
Khi chúng tôi đến đài, tổng giám đốc phát thanh và truyền hình Lê Vĩnh Hòa và nghệ sĩ Trần Văn Trạch đón tôi. Hình như lúc này anh Trạch phụ trách phần văn nghệ của đài truyền hình Sài Gòn. Đây là lần cuối cùng tôi gặp anh Trạch, người mà tôi rất mến mộ tài năng. Anh đã từng mang truyền đơn bươm bướm cổ động bầu cử Hạ nghị viện của tôi phân phát cho các cử tri khi tôi ra ứng cử dân biểu lần thứ ba (1971). 
Anh nổi tiếng với giọng hát nhại theo các danh ca quốc tế như Tino Rossi, Maurice Chevalier... Đặc biệt anh Trạch nhại được cả âm thanh của các cuộc đua ô tô Công thức 1 như những buổi tường thuật trực tiếp trên các đài phát thanh nước ngoài. Đời sống riêng của anh khá chật vật, do đó không có điều kiện để phát huy sở trường của anh thật đúng mức.
Bài nói của tôi trên truyền hình không được viết sẵn nên nội dung cũng không được tổng thống Dương Văn Minh hay thủ tướng Vũ Văn Mẫu duyệt. Tôi được tổng thống Dương Văn Minh dành cho một quyền hạn khá rộng rãi và một sự tin cậy cao. Bởi tôi cũng là một trong những người góp phần hình thành lập trường chung của nhóm ông Minh, nên ông Minh và ông Mẫu tin chắc tôi nắm rõ quan điểm của nhóm trong phát biểu của mình.
Trong bài nói trên truyền hình, trước hết tôi khẳng định chính phủ Dương Văn Minh là một chính phủ chủ trương hòa bình. Những ngày sắp tới chắc chắn không có tắm máu như những lời đồn đãi vì rằng chính phủ Dương Văn Minh dứt khoát sẽ không đối đầu quân sự với quân giải phóng: 
“Bà con hãy ở lại. Mồ mả ông bà của ta ở đây, quê hương của ta ở đây”. Những lời kêu gọi này tôi nói gần như trong nước mắt...
Lý Quý Chung /Một Thế Giới