Chiến lược chiến tranh bất đối xứng của Việt Nam trên Biển Đông

(PetroTimes) - Đội bay của các hạm đội và tàu ngầm với tên lửa Việt Nam có thể tấn công và rút lui vào các cảng khá dễ dàng. Trong khi hạm đội các nước khác có thể bị thiệt hại hoặc bị tiêu diệt trước khi về lại các cảng ở xa bờ.

Tên lửa BrahMos.
Vào ngày 17/1/2012, Việt Nam đã công bố tàu chiến tự chế đầu tiên. Dường như các thay đổi có rất nhiều điểm giống tàu hộ tống Tarantul của Nga, tuy nhiên, chiếc tàu mới này được trang bị các tên lửa và hệ thống súng pháo tương đối tối tân.
Mặc dù kỹ thuật của Việt Nam vẫn chưa gây nhiều ấn tượng so với các tiêu chuẩn tàu chiến hiện đại, nhưng sự công bố này phản ánh sự nỗ lực của Việt Nam trong việc phát triển hải quân ở khu vực nhằm cạnh tranh với lực lượng ngày càng tăng của nước hàng giềng lớn hơn.
Trung Quốc đang ra sức để đạt được mục tiêu bá chủ Hải quân vào năm 2050, với tàu sân bay đầu tiên đã được đưa vào thử nghiệm trên biển cách đây không lâu.
Trong khi nhiều dự đoán và nỗ lực được tập trung vào sự phát triển lực lượng hải quân của Trung Quốc trong một thập kỷ qua, thì ít có ai để ý đến tiềm lực quân sự ngày càng gia tăng của Việt Nam. Trong năm 2009, Việt Nam đã mua 6 chiếc tàu ngầm tấn công với động cơ diesel loại Kilo của Nga với khoảng 3,2 tỷ USD, một số tiền đáng kể trong ngân sách quốc phòng và là hợp đồng xuất khẩu hải quân lớn nhất của Nga.
Hồi cuối năm 2011, nhà máy đóng tàu Schelde của Hà Lan đã ký với Việt Nam các hợp đồng xây dựng bốn tàu hộ tống loại Sigma, trong đó 2 chiếc sẽ được xây dựng trong nước nhưng nằm dưới sự giám sát của Hà Lan.
Cho tới thời điểm này, Hải quân Việt Nam không phải là cơ quan duy nhất được nâng cấp hạm đội. Cảnh sát biển Việt Nam (VMP) đã mua một số tàu tuần tra nước ngoài từ các tập đoàn Damen của Hà Lan, trong đó bao gồm cả loại hơn 1.000 tấn và có thể mang theo máy bay trực thăng, và đây sẽ là tàu lớn nhất của VMP. Việc này sẽ cung cấp năng lực đáng kể cho VMP trong việc đối trọng lại với số lượng tàu 1.000 tấn cộng với Cơ quan Giám sát hàng hải của Trung Quốc ở Biển Biển Đông.
Đây chưa phải hoàn toàn là các điểm chính. Hợp đồng này còn bao gồm các sản xuất được cấp phép và xây dựng các cơ sở bảo trì chuyên ngành, cùng lúc họ cũng đang giúp Việt Nam thiết lập các ngành nghiên cứu hải quân và phát triển cơ sở hạ tầng. Và thời điểm thuận lợi này cũng giúp Việt Nam có lợi thế hơn trong lúc Trung Quốc không có khả năng mua vũ khí nhập từ nước ngoài (do lệnh cấm vận hoặc lo ngại ‘sao chép kỹ thuật’, như trong trường hợp với nước Nga).
Ấn Độ tuyên bố hồi tháng 9/2011 rằng họ sẽ bán tên lửa BrahMos cho Việt Nam, trong lúc Việt Nam đã có hệ thống phòng chống ven biển, kể cả hệ thống Bastion của Nga. Ấn Độ cũng giúp Việt Nam đào tạo các chuyên gia cho các tàu ngầm Kilo mới, dự tính sẽ được chuyển giao vào năm 2014.
Về mặt chiến lược, Việt Nam thực sự có lợi thế hơn nhiều so với các nước khác. Việt Nam đang tuyên bố chủ quyền trên vùng lãnh thổ lâu đời - một khu vực có thể nói là ngay trước cửa nhà mình. Đội bay của các hạm đội và tàu ngầm với tên lửa có thể tấn công và rút lui vào các cảng khá dễ dàng, trong khi hạm đội các nước khác có thể bị thiệt hại hoặc bị tiêu diệt trước khi về lại các cảng ở xa bờ.
Việt Nam không cần phải cạnh tranh để có đủ số lượng tàu hải quân các nước khác, nhưng thay vào đó họ có thể sự dụng giáo lý chiến tranh du kích ở ngoài khơi Biển Đông. Một chiến lược tuy không đối xứng, nhưng kết hợp với các liên minh kịp thời, thì Việt Nam sẽ được chuẩn bị tốt nếu xảy ra xung đột.
Cho dù điều này hóa ra là một cuộc chiến tranh ‘tâm lý’, thì các khả năng thương thuyết và quyết định vẫn phải được mang mổ xẻ ở hội nghị bàn tròn. Nhưng có một điều chắc chắn rằng, Việt Nam sẽ đảm bảo có tất cả các lá bài tốt nhất trước khi ngồi xuống để đàm phán ở hội nghị bàn tròn.
(Bài viết thể hiện quan điểm cá nhân của tác giả Đặng Khương đăng trên mạng về quân sự Defense News. Ban biên tập PetroTimes đã lược bỏ một số câu chữ để phù hợp với văn phong báo chí).

Popular posts from this blog

Những tên làng kỳ lạ nhất VN

“Phượt” miền Tây