Đà Nẵng muốn kiện phải chờ người duyệt là... Thủ tướng!

Đây mới là dự thảo mà Bộ Tài nguyên và Môi trường là cơ quan tham mưu và nếu có kiện thì phải chờ kiện người ký quyết định ban hành là Thủ tướng. Tuy vậy, Bộ Tài nguyên và Môi trường cũng phải làm tròn trách nhiệm quản lý nhà nước về tài nguyên nước, không được đùn đẩy đá quả bóng trách nhiệm lên Thủ tướng.Đà Nẵng muốn kiện phải chờ người duyệt là... Thủ tướng!
Dư luận vừa qua xôn xao chuyện Đà Nẵng dọa kiện Bộ Tài Nguyên và Môi trường về quy trình vận hành liên hồ chứa A Vương, Đắk Mi 4 và sông Tranh 2 trên lưu vực sông Vu Gia - Thu Bồn, đặc biệt là vấn đề xả nước của thủy điện Đắk Mi 4. Chia sẻ, cảm thông với Đà Nẵng vì nếu không có ý kiến sớm người ta ký rồi thì thành ra “mất bò mới lo làm chuồng”.
Quan điểm của hai phía
Thực hiện chỉ đạo của Chính phủ về việc xây dựng Quy trình vận hành liên hồ chứa trên các lưu vực sông, Bộ Tài nguyên và Môi trường đã chủ trì xây dựng quy trình vận hành liên hồ chứa các hồ A Vương, Đắk Mi 4 và Sông Tranh 2 trong mùa lũ hàng năm trình Thủ tướng Chính phủ, ban hành tại Quyết định số 1880/QĐ-TTg ngày 13.10.2010.
Trên cơ sở kế thừa, có điều chỉnh một số nội dung quy định vận hành và kết quả xây dựng các nội dung vận hành các hồ chứa trong mùa cạn, Bộ Tài nguyên và Môi trường đã biên tập thành dự thảo Quy trình vận hành liên hồ chứa các hồ A Vương, Đắk Mi 4 và Sông Tranh 2 (bao gồm cả mùa lũ và mùa cạn) trên lưu vực sông Vu Gia - Thu Bồn.
Bộ Tài nguyên và Môi trường dựa trên phân tích tài liệu về tổng lượng dòng chảy mùa cạn thuộc lưu vực Vu Gia - Thu Bồn từ năm 1978-2011, khi tiến hành lập quy trình vận hành đã nghiên cứu, phân tích các đặc điểm cụ thể, cân nhắc ưu tiên nhiệm vụ bảo đảm cấp nước cho hạ du trên nhiệm vụ phát điện. Tổng lượng nước trên sông Vu Gia đến Ái Nghĩa không chỉ có hồ Đắk Mi 4 mà còn có hồ A Vương, Sông Côn 2 và trong tương lai có hồ Sông Bung 4, 5, 6 trên dòng sông Bung. Trong khi tổng lượng nước đến hồ Đắk Mi 4 chỉ chiếm khoảng 26,5% so với tổng lượng nước sông Vu Gia đến Ái Nghĩa.
Theo đề xuất trong quy trình vận hành, mực nước thấp nhất cần được duy trì thường xuyên tại trạm thủy văn Ái Nghĩa là 2,53m. Với mực nước khống chế này, thủy điện Đắk Mi 4 bị thiệt hại do xả nước về sông Vu Gia trong mùa cạn từ 55 triệu KWh (chiếm 6,6% tổng sản lượng điện hằng năm) đến 144,6 triệu KWh (chiếm 17,3%), tương ứng 55-145 tỉ đồng...
Nằm ở hạ du, chịu nhiều tác động của các công trình thủy điện phía thượng lưu nên phản ứng của Đà Nẵng là điều dễ hiểu. Khống chế mực nước tại Ái Nghĩa ở mức 2,53m nghĩa là gần như Đắk Mi 4 sẽ không xả trả nước lại cho sông Vu Gia, ngoại trừ 5 m3/s để duy trì dòng chảy trên đoạn sông “chết” từ Đắk Mi 4 đến Bến Giằng (tỉnh Quảng Nam). Điều này ngược với ý kiến chỉ đạo của Phó Thủ tướng Hoàng Trung Hải, yêu cầu Đắk Mi 4 phải trả lại nước sông Vu Gia 25 m3/s…
Lỗ hổng trong lập luận
Bức xúc của Đà Nẵng là chính đáng nhưng có thể chưa được đầu tư nghiên cứu sâu nên lập luận, lý lẽ đưa ra còn nhiều hạn chế. Về khía cạnh chuyên môn, có một số mặt tồn tại như sau:
Thứ tự xây dựng các công trình thủy điện trên lưu vực sông Vu Gia - Thu Bồn chưa tôn trọng quy hoạch sử dụng tổng hợp nguồn nước của lưu vực sông, trên cơ sở phân tích khách quan yêu cầu sử dụng nước của các ngành và khả năng có thể đáp ứng được đến đâu.
Dựa vào quy hoạch sử dụng tổng hợp nguồn nước của lưu vực sông, các ngành mới làm quy hoạch nước cho ngành mình. Nhưng lâu nay ở ta, do yếu kém của quy hoạch lưu vực sông nên vẫn “mạnh ai, lấy làm” sử dụng nước riêng cho ngành mình, hậu quả có lợi ích cục bộ, tranh chấp cũng không có gì lạ!
Chuyển nước lưu vực là vấn đề hết sức phức tạp, nhưng ít được coi trọng cho đến khi có luật tài nguyên nước. Mặc dù đã có luật tài nguyên nước nhưng khi đồng ý cho phép xây dựng thủy điện Đắk Mi 4, các nhà quản lý vẫn chưa quan tâm đến 40km hạ lưu thủy điện Đắk Mi 4 bị cạn kiệt, không đáp ứng yêu cầu của dòng chảy tối thiểu.
Việc phân lưu về sông Thu Bồn qua sông Quảng Huế, trước đây chỉ khoảng hơn 20% lượng nước sông Vu Gia vào mùa kiệt, nhưng sau một số biến đổi lòng dẫn do lũ lụt, đặc biệt là sau khi nạo vét sông Quảng Huế (Viện Khoa học Thủy lợi Việt Nam thực hiện năm 2008), lượng nước chuyển qua Quảng Huế khoảng 40% (tùy theo cao độ mực nước) đã gây ảnh hưởng đến hạ du sông Vu Gia.
Một khi con người tác động vào tự nhiên bao giờ cũng có được và mất, do đó phải làm sao cho cái được là lớn nhất, cái mất là ít nhất và có chính sách, cơ chế và biện pháp bù lỗ cho những nơi bị thiệt hại. 
Trong quy trình vận hành liên hồ chứa có nêu 3 trường hợp: khi mực nước tại trạm thủy văn Ái Nghĩa nhỏ hơn 2,53m là giá trị mực nước trung bình 1 tháng nhỏ nhất; khi mực nước tại trạm thủy văn Ái Nghĩa trong khoảng từ 2,53-2,67m và khi mực nước tại trạm thủy văn Ái Nghĩa lớn hơn 2,67m (giá trị mực nước trung bình 3 tháng nhỏ nhất), chủ hồ căn cứ vào mực nước hồ và lưu lượng đến hồ để quyết định vận hành xả về sông Vu Gia.
Lập luận lấy “giá trị mực nước trung bình 1 tháng nhỏ nhất" tại Ái Nghĩa làm mục tiêu vận hành của chuỗi 33 năm từ năm 1976-2008 để cấp nước là không chính xác, cả về lý thuyết lẫn thực tế.
Trong giải trình của Bộ Tài nguyên và Môi trường có nêu: “Tổng lượng nước yêu cầu phục vụ cho các ngành kinh tế, sinh hoạt, dịch vụ, môi trường… trong mùa cạn ở lưu vực Vu Gia - Thu Bồn khoảng 2.132 triệu m3. Với quy định như dự thảo Quy trình, qua tính toán việc vận hành các hồ chứa đã đảm bảo nhu cầu dùng nước cho hạ du sông Vu Gia ngay cả trong những năm ít nước trong mùa cạn 1990-2005 có tần suất xấp xỉ 85%. Lưu ý rằng mức bảo đảm 85% là thấp, hiện cấp nước cho nông nghiệp đã là 85%, cho dân sinh, công nghiệp và môi trường phải bảo đảm cao hơn.
Cần xem xét bổ sung các chỉ tiêu khống chế về lưu lượng, bên cạnh chỉ tiêu mực nước. Vì trên thực tế cho thấy, vào mùa kiệt nguồn nước của nhà máy nước Cầu Đỏ những năm gần đây thường xuyên bị nhiễm mặn, một phần do dòng chảy trên sông không đủ để đẩy mặn. Việc này càng khẳng định vấn đề không thể chỉ sử dụng tiêu chí mực nước để đảm bảo cấp nước cho vùng hạ du sông Vu Gia, đặc biệt là địa hình lòng sông những năm gần đây có nhiều thay đổi. Vấn đề này cần được nghiên cứu kỹ hơn, có luận cứ khoa học rõ ràng hơn.
Quy trình vận hành phải được phản biện kỹ hơn để tránh sai sót. Đặc biệt, cần tính toán mô phỏng dòng chảy trên toàn bộ hệ thống sông Vu Gia - Thu Bồn với các kịch bản công trình thượng nguồn được vận hành theo Quy trình bằng những mô hình toán hiện đại, để phát hiện ra khiếm khuyết trước khi áp dụng. Điều này hoàn toàn nằm trong quyền chủ động của các bên liên quan...
"Bài toán ngược" trong tổ chức 
Bộ Tài nguyên và Môi trường có chức năng nhiệm vụ quản lý tài nguyên nước nhưng thiếu nguồn nhân lực chuyên sâu, do hầu hết vẫn ở ngành thủy lợi thuộc Bộ Nông nghiệp & Phát triển nông thôn nên công tác quy hoạch lưu vực sông luôn đi sau quy hoạch các ngành dùng nước. Đó là hậu quả của “bài toán ngược” trong công tác tổ chức.
Một khi con người tác động vào tự nhiên bao giờ cũng có được và mất, do đó phải làm sao cho cái được là lớn nhất, cái mất là ít nhất và có chính sách, cơ chế và biện pháp bù lỗ cho những nơi bị thiệt hại. Bộ cần cập nhật các tài liệu cơ bản mới về kinh tế xã hội kể cả vận hành trạm bơm An Trạch, xác định rủi ro hạ du bao gồm cả lũ lụt và hạn hán. Trên cơ sở đó xem xét lợi ích tổng hợp để lựa chọn mức độ rủi ro chấp nhận được rồi xây dựng chế độ vận hành các hồ chứa, trong đó không chỉ quy định các quy trình vận hành cơ bản mà còn là các ứng xử trong các hoàn cảnh cụ thể của cả hệ thống công trình.
Trong cuộc họp báo ngày 24.2, Thứ trưởng Trần Hồng Hà khẳng định sẽ làm tốt nhất để không bao giờ có kiện cáo, nhưng lại đá quả bóng lên trên “Thủ tướng là người quyết định chứ không phải Bộ Tài nguyên và Môi trường"!?
Quy trình vận hành liên hồ chứa mới ở dạng dự thảo, cần phải lắng nghe, thảo luận ý kiến trái chiều của các bên liên quan. Nếu không có tiếng nói chung, Đà Nẵng có quyền báo cáo thẳng lên Thủ tướng, hay gọi là “phản kháng” cũng được. Còn nếu Đà Nẵng muốn kiện thì phải chờ kiện người sẽ phê duyệt quyết định tức là… Thủ tướng!
Tô Văn Trường/Một Thế Giới
Ảnh minh họa từ internet