Skip to main content

Những câu chuyện nhỏ từ một nhân cách lớn

NGUYỄN THẾ TƯỜNG
Đại tướng Võ Nguyên Giáp trong một lần về thăm Quảng Bình. Ảnh tư liệu.
Năm 1990, ba tôi mất, dù năm ấy tôi đã sắp tới tuổi “tứ thập nhi bất hoặc” mà vẫn thấy chống chếnh, mất thăng bằng. Cơ may, chưa đầy hai năm sau, bác Giáp “rảnh rang việc nước” nhiều lần về thăm quê dài ngày, tôi được đi theo làm phim, nhớ thời thơ ấu vượt sông đón Bác, thời quân ngũ chiến đấu trong đội hình “anh cả”, tìm lại được điểm tựa, lòng tin với đời. Nay thì Bác cũng lại đã đi xa trong tuổi thánh thần và tôi cũng đã tròn “lục thập hoa giáp” sao lòng vẫn thấy chênh chao mãi không thôi…
    CÂU CHUYỆN THỨ NHẤT
    Khoảng những năm 1983-1984, đại  tướng Võ Nguyên Giáp về  thăm Bình Trị Thiên (Quảng Bình – Quảng Trị và Thừa Thiên –Huế bây giờ). Chuyến thăm khá bình lặng, báo chí hầu như không đưa tin. Tôi làm ở phòng thời sự đài phát thanh của tỉnh mà cũng không hề biết. 
    Mãi ít lâu sau, trên một diễn đàn thanh niên, ông Ngô Yên Thi là bí thư tỉnh đoàn có kể rằng, chuyến thăm ấy, khi “vi hành” lên miền tây Huế, gặp một nhóm thanh niên đang sinh hoạt văn nghệ ngoài trời khá thú vị, Đại tướng dừng lại hỏi thăm và được biết người thanh niên trưởng tràng là một Cha cố. Đại tướng đã lưu ý giới lãnh đạo đoàn thanh niên của tỉnh về cách tập hợp thanh thiếu niên sao cho uyển chuyển hấp dẫn theo nhiều hình thức tạo được cảm xúc thẩm mỹ, tránh xơ cứng khô khan, văn phòng giáo điều.
    CÂU CHUYỆN THỨ HAI
    Cũng thời gian ấy, tôi có dịp ra Hà Nội công tác. Trước khi trở về Huế tôi tìm mua vài chục cuốn phim cho bạn nghề. Tại một hiệu ảnh trên đường Quán Thánh, tôi phải chờ khá lâu vì bà chủ cửa hiệu đang xem kịch ở Nhà hát lớn chưa về. Khuya, trời vẫn nóng lại mất điện, bà chủ nhà về vớ cái quạt vẩy phành phạch giọng vô cùng bức bối: “Bài ca Điện Biên gì mà chẳng thấy ông Giáp đâu cả, người xem bực cả mình!”. 
    Rất lâu về sau, đọc bài viết của GS-TS Đình Quang - Thứ trưởng bộ Văn hóa lúc đó, tôi mới biết trong đêm công diễn đầu tiên, giấy mời không đến được tay Đại tướng. Vậy nhưng Bác cũng không lấy thế làm điều mà vẫn vui lòng đến xem vào hôm sau và được công chúng hoan hô nhiệt liệt.
    Diệu kỳ thay, trong cả những lúc “trái gió trở trời” mà tâm hồn và con tim Đại tướng vẫn yên vẫn đằm, và hơn thế, vẫn lo lắng cho thế hệ thanh niên đến từng chi tiết của phương pháp tập hợp. Điều đó lý giải một phần cái tình cảm yêu thương hồn nhiên mà người dân lao động thủ đô dành cho Bác. Nhưng những câu chuyện tương tự lại khiến tôi đôi khi ngơ ngác chạnh lòng. Nhà tôi cách nhà Bác chỉ chừng hơn năm chục mét, chính là chiều rộng con sông nhỏ- Kiến Giang. 
    Năm lên bảy, tôi đã dám cùng bọn trẻ trong xóm bơi vượt sông, lưng trần đầu ướt cuốn  theo dòng người cuồn cuộn đón Đại  tướng về  thăm quê  lần đầu sau cuộc kháng chiến chống Pháp. Mười năm sau, nhập ngũ,  tôi  tự hào hành quân  trong đội ngũ trùng điệp của đội quân “huynh đệ chi binh” mà người anh cả lại chính là Bác đồng hương họ Võ. Rồi đất nước yên hàn, lại qua bao “ấm lạnh”, miếng cơm manh áo, vợ yếu con thơ xua đi bao mộng đẹp. Cơ may, năm 1992, tôi được cử làm phim tài liệu “Trở về mái nhà xưa” trong lần Bác về thăm quê dài ngày. 
    Thăm, làm việc với hầu hết các địa phương trong tỉnh, không thấy Bác nhắc đến chiến công, mà nghe nhiều về đổi mới cách làm ăn, tư duy khoa học, kế hoạch hợp lý hiệu quả, bảo tồn và phát huy văn hóa. Có thể có thời gian Đại tướng phụ  trách Khoa học công nghệ môi trường nên Bác đặc biệt quan  tâm đến những vùng đầm phá nước lợ Ô Loan, Thị Nại, Tam Giang, Hạc Hải, môi trường sinh thái, giá trị kinh tế cũng như bản sắc địa văn hóa của các vùng thủy tụ.
     Ở Lệ Thủy - Quảng Ninh (Quảng Bình) có câu ngạn ngữ: “Mâu sơn vi bút- Hạc Hải vi nghiên -  trường sa vi bản” (Núi Mâu như ngọn bút chấm vào nghiên mực Hạc Hải viết lên tờ giấy bãi cát ven biển mà nên truyền thống hiếu học của vùng đất). Sau này, khi biết Hạc Hải đang bị bồi  lắng và can thiệp thiếu khoa học, Bác đã hơn một lần cử chị Võ Hồng Anh về kêu tôi cùng đi đối thoại, yêu cầu lãnh đạo tỉnh trả lời Bác qua điện thoại về chuyện này.
    CÂU CHUYỆN THỨ BA
    Hò khoan là đặc sản của huyện Lệ Thủy nhưng cũng là món ăn tinh thần dân dã của cư dân cả Bình Trị Thiên. Tôi đã nghe hò khoan ở các vùng quê Quảng Trị, ở Huế và nhiều làng quê khác từ chân thềm nam đèo Ngang đến bắc Hải Vân trong những năm làm báo ngang dọc cuối thế kỷ 20. 
    Nhưng nghe hò khoan ở Hà Nội, được tận hưởng không gian văn hóa này giữa lòng thủ đô mà “ca sĩ chủ công” lại chính là vị Đại tướng lừng danh thế giới thì lại vào một ngày đầu thế kỷ 21. Trại sáng tác Văn học nghệ thuật Đại Lải (Vĩnh Phúc) gồm 15 trại viên sắp tới hồi bế mạc. 
    Tham quan, dâng hương đền Hùng và thăm bác Giáp là hai nguyện vọng tha thiết của trại viên. Tôi phải lãnh trách nhiệm liên lạc với chị Võ Hồng Anh để tìm cách “chen ngang” vì mỗi ngày Đại tướng chỉ dành ít thời gian tiếp khách mà số lượng các đoàn đăng ký thì đông. Nguyện vọng được đáp ứng. Không ít nhân viên hành chính của trại nghe tin cũng háo hức xin “bám càng”. Phòng khách gia đình ở 30 Hoàng Diệu. 
     Đại tướng và phu nhân với các chiến sĩ Học viện lịch sử quân sự VN thăm Đại tướng nhân kỷ niệm 55 năm chiến thắng lịch sử Điện Biên Phủ. Ảnh: Việt Văn.
    Nhạc sĩ Dương Viết Chiến đọc bài phát biểu soạn sẵn không hiểu sao lại nhấn đi nhấn lại việc Đồng Hới đã có cầu Nhật Lệ qua Bảo Ninh. Đại tướng ngắt lời vui vẻ nói: “Có cầu cũng tốt, nhưng quan trọng nhất là có đoàn kết không? Có đoàn kết mới làm được nhiều việc thành công, mới sáng tác được nhiều tác phẩm có giá trị. Bắc cầu sang nhau mà mất đoàn kết thì cũng bằng không”.
    Rồi đó, Giáo sư phu nhân mời mọi người ăn kẹo. Một số tác giả đọc thơ. Tôi nháy mắt với nhạc sĩ Nguyệt Anh mở “bài tủ”. Nguyệt Anh tiến lên xin phép hò khoan Lệ Thủy và ngay lập tức được Bác hoan nghênh. Điều không ngờ  là khi Nguyệt Anh mới dạo xong câu mời “Ơ… hơ… khoan... xin mời  tất cả… xố… hơ… con”  thì giọng xố sành điệu cất lên đầu tiên lại là của…
    Đại tướng: “Ơi là hố!” Bác còn vỗ tay giữ nhịp và làm động tác như đang giã gạo đêm trăng: “ơ hơ khoan… ơi là hố khoan ơi hò khoan…”. Mọi người  (cả phu nhân Đặng Bích Hà và trưởng nữ Võ Hồng Anh) vừa ngạc nhiên vừa thích thú cất giọng nương theo. Thì ra, đến lúc ấy, năm 2004, tròn 80 năm xa quê Bác vẫn không hề quên làn điệu dân ca quê hương. 
    Tiếng hò, tiếng xố rập ràng vang vang uốn lượn trong không gian yên bình trong mát của khuôn viên 30 Hoàng Diệu khiến những cán bộ nhà sáng tác Vĩnh Phúc rất ngỡ ngàng mà cả những chiến sĩ cảnh vệ cũng tò mò đến gần cửa lắng nghe…
    CÂU CHUYỆN THỨ TƯ
    Một năm sau, cái sự quen biết và “đồng hương” của tôi với gia đình Đại tướng lại được dân văn nghệ khai thác. Đại hội đại biểu nhà văn Việt Nam  tại hội  trường Ba Đình sắp bế mạc. Chị Võ Hồng Anh lại giúp chúng tôi được ưu tiên gặp Bác lúc 16 giờ ngày 24.4.2005. 
    Đoàn nhà văn Bình Trị Thiên gồm Ngô Minh, Nguyễn khắc Phê, Vĩnh Nguyên (Thừa Thiên Huế), Trần Công Tấn  (Quảng Trị), Hữu Phương, Hoàng Vũ Thuật, Nguyễn Văn Dinh, Lý Hoài Xuân, Hải Kỳ, Hoàng Bình Trọng và tôi (Quảng Bình), Bùi Quang Thanh ( Hà Tĩnh), Thai Sắc (Đồng Tháp), Lưu Trọng Bình (làm báo ở Sài Gòn). Hữu Phương đảm  trách  trưởng đoàn  tặng bó hoa  tươi và đọc: “Kính  thưa bác Đại  tướng Võ Nguyên Giáp và phu nhân…”. Bác liền giơ tay ngắt lời: “Cứ nói Đại tướng và cô Hà là được rồi”. 
    Hữu Phương tiếp tục: “Đoàn nhà văn chúng cháu…”. Đại tướng lại ngắt lời: “Phải xưng là chúng tôi, đừng xưng chúng cháu, đoàn nhà văn chúng tôi…” (Bác nhấn mạnh). Nhà văn Hữu Phương giới thiệu từng thành viên trong đoàn, Đại  tướng hỏi: “Sao không  thấy o nhà văn nào cả?”, Hữu Phương thanh minh vì hội trường rộng và đang tiếp tục họp nên không thông báo được nhiều.
    Đại tướng lại hỏi: “Đại hội có dân chủ không?” Rồi Bác im lặng chờ câu trả lời trong khi chúng tôi lại ú ớ không khẳng định được. Nhà văn Nguyễn Khắc Phê bất ngờ tiến lên lôi từ trong cái túi “càn khôn” ra một xâu chuỗi thoạt trông như tràng hạt của nhà sư: “Thưa anh! Em là Nguyễn Khắc Phê, quê ở Hương Sơn (Hà Tĩnh), hiện ở Huế…”. Ai đó thẽ thọt: “Là em trai Nguyễn Khắc Viện ạ”. Ánh mắt Đại tướng và cô Hà toát lên sự chia se đồng cảm. Nguyễn Khắc Phê tiếp: “Từ lâu em đã ngưỡng mộ anh. 
    Được biết nay tuổi đã cao anh vẫn thường tọa thiền và tiết chế ẩm thực để giữ gìn sức khỏe. Em có chút quà Huế tặng anh”. Thì ra, cái “chuỗi tràng hạt” là những xâu hạt sen Tịnh Tâm. Nhà thơ Nguyễn Văn Dinh tặng tập thơ viết về Hồ Chí Minh do chính Đại tướng viết lời tựa. Bác trân trọng đón nhận các món quà nhỏ mang nhiều ý nghĩa rồi căn dặn: “Phải đoàn kết, không đoàn kết thì không làm được gì hết. Đất miền Trung nghèo, thời tiết khắc nghiệt, phải biết đoàn kết mới làm nên nghiệp lớn”. 
    Cô Hà bưng kẹo ra mời mọi người. Bất ngờ Bác nói: “Có ai làm thơ hay, đọc vài bài cho mọi người cùng nghe, nhưng nhớ đọc những bài ngắn nhé…”. Trong khi các nhà  thơ trình bày tác phẩm của mình, tôi lại thấy Đại tá Bác sĩ Nguyễn Văn Huyên bước vào nhắc hết giờ và câu nói muôn thuở mỗi lần tiếp khách ở quê ra của vị Đại tướng, Bác nói gần như khẩn khoản: “Cho mình xin thêm mười phút”, và tôi hiểu vì sao Đại tướng yêu cầu chỉ đọc những bài thơ ngắn và hỏi rằng đại hội có dân chủ không…
    CÂU CHUYỆN THỨ NĂM
    Nhà báo Lưu Trọng Bình kể: Hồi mới giải phóng miền Nam 1975, tôi còn làm ở đài phát  thanh Giải phóng (CP90), Bác Giáp về thăm Huế, nói chuyện với cán bộ cốt cán tỉnh Thừa Thiên, tôi được dự để đưa tin. Có đại biểu hỏi: Bây giờ giải phóng miền Nam rồi thì sao đây? 
    Đại tướng trả lời: “Theo ý của cá nhân tôi thì ta phải có một thời kỳ quá độ cho hai miền Nam Bắc…”. Gần bốn mươi năm trôi qua rồi mà tôi vẫn nhớ như in cái ý kiến này của Bác. Tiếc là ta không những không thực hiện cái giai đoạn quá độ cho hai miền mà còn vội vàng đốt cháy mất. Bây giờ có những giá trị muốn tìm lại cũng không được nữa…

    Popular posts from this blog

    Những tên làng kỳ lạ nhất VN