Học mà không thi là... xa xỉ

Bao năm ta mải mê đào tạo những thế hệ học sinh chỉ biết cắm cúi làm bài tập ngữ pháp và chọn đáp án đúng trong những câu trắc nghiệm nhưng khi cần lại không thể vận dụng được ngoại ngữ như một công cụ giao tiếp.

LTS: Tiếp diễn đàn dạy – học ngoại ngữ trong nhà trường. Tuần Việt Nam xin giới thiệu góc nhìn của tác giả Khương Duy, giảng viên, nghiên cứu sinh tại Anh.
Tranh luận nhiều chiều đã diễn ra, quanh việc giữ hay bỏ môn ngoại ngữ trong kỳ thi tốt nghiệp THPT.
Khi mà tâm lý học để thi còn quá lớn, nếu thiếu vắng sức ép thi cử thì việc học sinh đầu tư cho các môn “học mà không thi” là một điều… xa xỉ?
Vào trường ĐH bằng số... 0
Công tác ở trường ĐH, tôi nhận thấy mặt bằng chung khả năng ngoại ngữ của HS, SV ta còn kém. Nhiều HS phổ thông bước vào ĐH với kiến thức ngoại ngữ gần như bằng… 0. Đến khi tốt nghiệp ĐH, một tỷ lệ lớnSV vẫn chưa thể giao tiếp đơn giản bằng ngoại ngữ chứ chưa nói tới sử dụng thành thạo phục vụ công việc.
Không thể để chất lượng dạy ngoại ngữ tiếp tục đi xuống. Dù Bộ GD&ĐT đã giải thích rằng đây chỉ là giải pháp tạm thời trong quá trình chuyển đổi cách thức thi cử đã lạc hậu ở môn học này, có lẽ cần tính tới hệ lụy của sự “thí nghiệm” này.
giáo dục, chất lượng, kỳ thi
Ảnh: Văn Chung
Liệu việc giảm số môn thi, đặt môn này làm môn bắt buộc, môn kia làm môn tự chọn liệu có giúp giải quyết được vấn đề? Người viết cho rằng việc HS, SV học môn Ngoại ngữ từ phổ thông lên  ĐH  mà vẫn không thể dùng để giao tiếp chứng tỏ chương trình, phương pháp và mục tiêu giảng dạy của chúng ta đang có vấn đề chứ không phải chỉ đơn giản là do cách thi cử đã lạc hậu như Bộ GD&ĐT nhìn nhận.
Bao nhiêu năm nay chúng ta mải mê đào tạo những thế hệ HS chỉ biết cắm cúi làm bài tập ngữ pháp và chọn đáp án đúng trong những câu trắc nghiệm nhưng khi cần lại không thể vận dụng được ngoại ngữ như một công cụ giao tiếp. Đó thực sự là một nghịch lý.
Nghiêm túc nhìn nhận lại, nghịch lý đó diễn ra trong toàn bộ hệ thống GD phổ thông của Việt Nam chứ không phải chỉ riêng với môn Ngoại ngữ. Có thể thấy, chương trình học THPT của Việt Nam quá hàn lâm, nhất là đối với đại đa số học sinh không phân ban. Với nội dung như thế, nếu học sinh không học để thi thì cũng không biết để làm gì?
Đã bao giờ các nhà quản lý tự hỏi: Học sinh phổ thông sẽ làm gì với những kiến thức nặng nề về toán học, vật lý, hóa học, sinh học… ở bậc THPT? Kiến thức về giải tích, phương trình, bất phương trình bậc cao, về chu kỳ bán rã… sẽ được bao nhiêu phần trăm học sinh sử dụng tới trong suốt cuộc đời từ sau khi kết thúc kỳ thi tốt nghiệp?
Với môn Văn, dường như học sinh THPT ở ở tuổi 17, 18 cũng quá nhỏ để có thể đắm chìm và thấu hiểu những không gian gian nghệ thuật khi lãng mạn, khi bi thương, và phát biểu về những giá trị tư tưởng vừa lớn lao vừa trừu tượng.
Chưa kể có những nội dung trong chương trình THPT khó tới mức chỉ nên đưa vào bậc ĐH. Với một chương trình học như vậy, dù chỉ học để thi thì phần lớn học sinh cũng không thể nắm vững được kho kiến thức đồ sộ, nên học tủ, học lệch, gian lận là điều dễ hiểu.
Những tháp ngà xa lạ
Vậy sứ mệnh của giáo dục phổ thông là gì?
Mục đích của giáo dục phổ thông là cung cấp cho học sinh những kiến thức nền tảng cơ bản nhất về cuộc sống, bên cạnh việc khuyến khích, gợi mở cho các em thế mạnh của mình để phát triển trong tương lai.
Chúng ta dường như đang xây dựng một chương trình phổ thông nằm trong những tháp ngà khoa học, cao siêu và xa lạ với cuộc sống. Nên nhớ rằng chỉ một phần học sinh THPT sẽ tiếp tục bước vào ĐH, CĐ.  Số còn lại sẽ bước ra cuộc sống như thế nào, nếu chỉ được nhà trường trang bị kiến thức về khảo sát hàm số, cân bằng phương trình hóa học, và bình giảng văn chương?
Trong khi đó, cái mà xã hội cần thì nhà trường lại đang thiếu. Đơn giản như việc khi tốt nghiệp THPT, ở độ tuổi 18, các em chính thức phải chịu trách nhiệm trước pháp luật về hành vi của mình, vậy nhưng kiến thức đại cương về pháp luật lại chỉ được lướt qua ở bậc học phổ thông ở một môn học được coi là rất phụ - Giáo dục công dân. Việc để các em bước ra khỏi ghế nhà trường mà không hiểu biết về hệ thống chính trị, pháp luật là một thiếu sót vô cùng lớn.
Tương tự, không phải học sinh nào cũng sẽ vào trường kinh tế để được học về kinh tế học nhưng bài toán kinh tế thì bất cứ con người nào cũng phải đối diện. Thế nên, lẽ ra nhà trường phổ thông phải cung cấp cho học sinh những kiến thức sơ đẳng về nền kinh tế, về giá cả, về thị trường, cung cầu.
Những kiến thức đó giúp các em khi ra khỏi cuộc sống có thể sơ lược hiểu được những gì đang diễn ra quanh mình, chẳng hạn như tại sao khi Tết đến giá cả lại tăng cao, lạm phát là gì, tại sao phải nộp thuế? Hay đơn giản như các em cần được hướng dẫn quản lý tài chính cá nhân để từng bước biết làm chủ cuộc sống.
Ngoại trừ các chương trình phân ban, những kiến thức khoa học tự nhiên quá hàn lâm nên được tiết chế và dành thêm thời gian để học sinh được học về những thứ gần gũi xung quanh như hệ thống điện, an toàn vệ sinh thực phẩm, cách phòng tránh một số căn bệnh thường gặp.
Đối với môn Văn, hiện đa số học sinh có thể viết hàng trang giấy ca ngợi vẻ đẹp của nàng Kiều hay sức sống tiềm tàng của cô Mị nhưng một lá đơn đúng thể thức lại không soạn được!
Đối với môn Văn, hiện đa số học sinh có thể viết hàng trang giấy ca ngợi vẻ đẹp của nàng Kiều hay sức sống tiềm tàng của cô Mị nhưng một lá đơn đúng thể thức lại không soạn được!
Thiết nghĩ, thay vì bắt các học sinh dành quá nhiều thời gian học thuộc và chép lại những lời hoa mĩ mà chính các em cũng chưa hiểu, nhà trường hãy san sẻ một phần thời lượng đủ để dạy cho các em biết diễn đạt các suy nghĩ của mình thành lời, biết phân tích và bình luận về những vấn đề nảy sinh trong cuộc sống, phân biệt và soạn thảo được các loại văn bản hành chính, khoa học, báo chí để dùng đúng hoàn cảnh. Đây mới thực sự là điều mà giáo dục phổ thông thực sự cần hướng đến.
Việc đổi mới giáo dục phổ thông phải làm sao để khi học sinh rời khỏi ghế nhà trường, phần nào các em có thể trở thành những công dân thực thụ chứ không phải là những chú “gà công nghiệp.”
Cho nên nâng tăng hay giảm môn thi tốt nghiệp sẽ không có ý nghĩa gì nếu như tư duy giáo dục vẫn không thay đổi.
Chất lượng giáo dục rớt rơi nhiều đâu phải bởi… kỳ thi.