Vụ oan của ông Chấn có lẽ không là duy nhất!

Vụ oan của ông Chấn có lẽ không là duy nhất!
Chiều ngày 21.11, trước câu hỏi của đại biểu Dương Trung Quốc về án oan và giải pháp giảm án oan cũng như tại báo cáo gửi Quốc hội, Chánh án Tòa án nhân dân Tối cao Trương Hòa Bình cũng nhất trí là nếu để xảy ra oan thì phải bồi thường. 
Chánh án nhấn mạnh giải pháp mang tính đột phá để nâng cao chất lượng điều tra, truy tố, xét xử các vụ án hình sự là nâng cao chất lượng tranh tụng tại các phiên tòa xét xử.
Vấn đề Chánh án Trương Hòa Bình nêu ra không phải mới “đúc kết, rút kinh nghiệm” từ vụ án oan của ông Nguyễn Thanh Chấn được các đại biểu đưa ra chất vấn tại nghị trường, mà là vấn đề cấp bách, được lãnh đạo Đảng, lãnh đạo nhà nước chú trọng quán triệt từ năm 2005 trong chương trình cải cách tư pháp.
Nghị quyết 49-NQ/TW của Bộ Chính trị về chiến lược cải cách tư pháp ra đời ngày 2.6.2005 đề ra mục tiêu: “Xây dựng nền tư pháp trong sạch, vững mạnh, dân chủ, nghiêm minh, bảo vệ công lý, từng bước hiện đại, phục vụ nhân dân, phụng sự tổ quốc Việt Nam; hoạt động tư pháp mà trọng tâm là hoạt động xét xử được tiến hành có hiệu quả và hiệu lực cao”.
Để đạt được mục tiêu trên, giải pháp mà nghị quyết nhấn mạnh là nâng cao chất lượng tranh tụng tại các phiên tòa xét xử, coi đây là khâu đột phá của hoạt động tư pháp. Tinh thần của Nghị quyết 49 là đổi mới việc tổ chức phiên tòa xét xử, xác định rõ hơn vị trí, quyền hạn, trách nhiệm của người tiến hành tố tụng và người tham gia tố tụng... theo hướng đảm bảo tính công khai, dân chủ, nghiêm minh.
Vấn đề là việc tranh tụng hiện nay trong các phiên tòa hình sự như thế nào?
Buộc tòa chứng minh tội phạm là "trói tay" thẩm phán
Để nâng cao cất lượng xét xử, khắc phục án oan, đòi hỏi pháp luật phải quy định rõ ràng hơn về tranh tụng, về chức năng, quyền hạn của tòa án phù hợp với hoàn cảnh thực tế của Việt Nam.
Hiện nay, tòa án có trách nhiệm chứng minh tội phạm trong khi nhiệm vụ, quyền hạn của tòa án trong hoạt động điều tra lại rất hạn chế.
Điều 33 Bộ luật Tố tụng hình sự xác định các cơ quan tiến hành tố tụng gồm có: cơ quan điều tra, viện kiểm sát, tòa án. Trách nhiệm chứng minh tội phạm thuộc về các cơ quan tiến hành tố tụng.
Như vậy tức là tòa án cũng có trách nhiệm chứng minh tội phạm như cơ quan điều tra và viện kiểm sát trong khi đúng ra hội đồng xét xử không phải chứng minh cho ai cả, mà đó là cơ quan cần được người khác chứng minh và thuyết phục rằng bị cáo đã có hành vi phạm tội, cần xử phạt bị cáo; hay việc truy tố bị cáo là thiếu cơ sở, không phù hợp quy định của luật pháp và cần tuyên bị cáo không phạm tội mà không phải trả hồ sơ để điều tra bổ sung.
Để có thể nhân danh nhà nước đưa ra được phán quyết công tâm, không bỏ lọt tội phạm, không làm oan người vô tội thì tòa án cần có quyền năng tiết hành một số hoạt động điều tra độc lập để tìm ra chân tướng sự thật trong trường hợp nghi ngờ vụ án chưa được điều tra đầy đủ, toàn diện. Đồng thời qua tranh tụng, tòa án sẽ đánh giá những chứng cứ tại phiên tòa chưa làm sáng tỏ được sự thật khách quan của vụ án.
Hiện nay, tòa án có trách nhiệm chứng minh tội phạm trong khi nhiệm vụ, quyền hạn của tòa án trong hoạt động điều tra lại rất hạn chế. Trường hợp phát hiện vụ án có những tình tiết mới có thể làm thay đổi nội dung vụ án, có vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng, phát hiện hồ sơ có nhiều mâu thuẫn, việc điều tra, thu thập chứng cứ chưa được khách quan, toàn diện… thì tòa án chỉ có thể trả hồ sơ để điều tra bổ sung. Và kết quả điều tra bổ sung lại phụ thuộc hoàn toàn vào hoạt động điều tra của... điều tra viên.
Đó là chưa kể hiệu lực của quyết định trả hồ sơ để điều tra bổ sung cũng rất “yếu”. Viện kiểm sát đồng ý với quan điểm của tòa án thì tiếp tục trả hồ sơ về cơ quan cảnh sát điều tra để điều tra bổ sung. Nếu không thì viện kiểm sát cho rằng điều tra như thế là đã đầy đủ, hoặc yêu cầu của tòa như thế là không thể điều tra thêm vì lý do này, lý do kia… nên đề nghị tòa án đưa vụ án ra xét xử “để đảm bảo thời hạn giải quyết vụ án”.
Án oan: trách nhiệm viện kiểm sát là cao nhất
Điều 19 Bộ luật Tố tụng hình sự quy định về đảm bảo quyền bình đẳng trước tòa án:“Kiểm sát viên, bị cáo, người bào chữa, người bị hại, nguyên đơn dân sự, bị đơn dân sự, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án, người đại diện hợp pháp của họ, người bảo vệ quyền lợi của đương sự đều có quyền bình đẳng trong việc đưa ra chứng cứ, tài liệu, đồ vật, đưa ra yêu cầu và tranh luận dân chủ trước tòa án. Tòa án có trách nhiệm tạo điều kiện cho họ thực hiện các quyền đó nhằm làm rõ sự thật khách quan của vụ án”.
Với quy định này, rõ ràng trước hội đồng xét xử thì kiểm sát viên cũng là một trong các bên tham gia tố tụng và bình đẳng với các bên tham gia tố tụng khác cùng tham gia phiên tòa, ý kiến của kiểm sát viên cũng được hội đồng xét xử xem xét, đánh giá để chấp nhận hay không chấp nhận.
Qua tranh tụng tại phiên tòa, nếu thấy hồ sơ không đủ căn cứ kết tội, kiểm sát viên không bảo vệ được cáo trạng thì tòa án tuyên ngay bị cáo không phạm tội mà không trả lại hồ sơ yêu cầu điều tra bổ sung. Như thế mới đúng nghĩa hoạt động xét xử, có thể có tội hoặc không. Tòa án không phải chịu trách nhiệm trong trường hợp không chứng minh được tội phạm vì đây là trách nhiệm của viện kiểm sát.
Đến nay, Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2003 cũng chưa có quy định nào đề cập trực tiếp đến việc tranh tụng, cơ chế để bảo đảm thực hiện việc tranh tụng cũng chưa được quy định trong bộ luật này.
Trường hợp của ông Chấn có lẽ không phải là vụ án oan duy nhất, nhưng từ vụ án này cần phải có những hành động cụ thể để giảm tới mức thấp nhất những oan sai.
Đối với vụ án ông Nguyễn Thanh Chấn, thời gian qua, dư luận chung vẫn cho rằng tòa án tắc trách, hội đồng xét xử phụ thuộc vào hồ sơ, không xem xét thấu đáo những ý kiến của luật sư bào chữa cho ông Chấn tại phiên tòa nên đã kết án oan. Nhưng đồng thời dư luận lên án và quy trách nhiệm dẫn đến án oan chủ yếu là do các điều tra viên đã cố ý làm sai lệch hồ sơ, viện kiểm sát với trách nhiệm của mình lại để cơ quan điều tra mớm cung, ép cung, tạo dựng hồ sơ… để tòa xử sai nên vai trò của họ dẫn đến án oan rất lớn, hơn cả tòa án.
Nhận thức như vậy cũng là phù hợp với tinh thần cải cách tư pháp, phù hợp với thông lệ chuẩn mực của ngành tư pháp là tòa án không có nghĩa vụ chứng minh tội phạm và cơ bản được miễn trách nhiệm trong những phán quyết của mình.
Tại nghị trường Quốc hội, Chánh án Tòa án nhân dân Tối cao Trương Hòa Bình đã đưa ra nhiều giải pháp cùng hướng tới mục tiêu cải cách tư pháp mà trọng tâm là hoạt động xét xử được tiến hành có hiệu quả và hiệu lực cao. Để tòa án xét xử đúng người, đúng tội, đúng pháp luật, không để lọt tội phạm và người phạm tội, không làm oan người vô tội, ông nhấn mạnh tới việc nâng cao chất lượng tranh tụng tại các phiên tòa và dân chủ hóa quá trình tố tụng với đầy đủ vai trò các bên tham gia.
Trường hợp của ông Chấn có lẽ không phải là vụ án oan duy nhất, nhưng từ vụ án này cần phải có những hành động cụ thể để giảm tới mức thấp nhất những oan sai. Chỉ có như vậy, ngành Tư pháp mới lấy lại được niềm tin của nhân dân.
Mai Lê
(Ảnh: Việc bắt và xử tù oan một người như ông Nguyễn Thanh Chấn không chỉ gây oan cho người vô tội mà còn bỏ lọt kẻ phạm tội thực sự nhởn nhơ ngoài sự trừng phạt của pháp luật. Sau vụ án oan thấu trời xanh của ông Chấn, dư luận đặt câu hỏi: Liệu có bao nhiêu vụ án "bắt nhầm, bỏ sót" như ông chưa được minh oan?)