Thứ Năm, ngày 14 tháng 2 năm 2013

Nghiêng mình ngắm bánh tét quê! Bài 1: Bánh tét và lửa ngày tết

Ngày thường cặp bánh tét chỉ là vật thực, nhưng “ba ngày tư ngày tết” nó là “đòn gánh quan hà” kết nối những tâm hồn Việt phiêu bạt tận phương xa!

Hơn ai hết, những người con xa xứ luôn trân quý, khát khao cái không khí gia đình đầm ấm, đủ đầy người lớn - trẻ con xúm xít lau lá chuối, chẻ lạt, lựa nếp... Với tâm thức an vui, thỉnh nguyện mọi điều tốt đẹp cho năm mới.
Gói lửa sinh thành
Lửa vốn chất chứa sự hủy diệt nhưng cũng góp phần kích thích mầm non tái sinh. Giống như cái thiện và ác luôn song hành trong mỗi con người. Nếu vắng lửa, gian bếp của mẹ sẽ thật đìu hiu!
Lửa hầm nồi bánh tét bằng củi gộc (lớn), nóng hừng hực không dưới sáu giờ và âm ỉ bằng ngần ấy thời gian.
Tối ba mươi, mẹ ngồi canh lửa nồi bánh và thấp thỏm ngóng trông “con Ba”, “thằng Út”... “đến giờ vẫn chưa thấy về”!
Ấm áp lửa bánh tét.

Lửa soi sáng bao nếp nhăn trên trán cha và tấm lưng gầy còm của mẹ. Lửa xoa dịu nỗi buồn tủi, khiến anh em chúng tôi rộng lượng “xí xóa” những tị hiềm trong năm cũ. Và thầm hứa rằng, chúng con sẽ luôn đùm bọc, nâng đỡ nhau, lỡ một mai cha mẹ đến độ “chuối chín cây”.
Lửa xua đi cái giá lạnh của gió đông còn sót lại từ năm cũ. Ấm áp như cử chỉ xoa đầu của cha, vòng tay của mẹ mỗi khi con đau ốm khò khè.
Lửa tỏa sáng đạo nghĩa sinh thành và thức tỉnh lương tâm những đứa con chưa tròn đạo hiếu, vẹn tình thâm!
Thật xót xa cho bà con Việt kiều khi ngậm ngùi đón cái tết lặng lẽ ở trời Tây. “Tết có chăng cũng chỉ là một chút lửa ấm nhóm lên trong lòng, chờn vờn và lay lắt rất riêng tư”, Trần Kiêm Đoàn, trích bút ký “Đòn Bánh Tét”, trang 130, trong sách Từ Ngõ Huế Xưa, NXB.Thuận Hóa.
Đồng thời, một đàn anh, gốc miền Trung đã định cư ở TP.HCM gần 20 năm, vẫn thèm lửa tết. Hằng năm, anh đều “ăn tết ngược” trên tàu lửa, ngay đêm ba mươi, từ Nha Trang vào Sài Gòn. “Nhìn bà con co ro đi nhặt củi chụm nồi bánh tét, bánh chưng mình có một cảm xúc thật khó tả. Nó gợi cho mình bao kỷ niệm đẹp về những cái tết quê nồng ấm ở Vạn Giã, Khánh Hòa. Và cứ trông kích thước chiếc nồi to hay nhỏ, đủ biết túi tiền của chủ nhân dành dụm cả năm nhiều hay ít”, anh tâm sự.
Hay nói như ông Trần Kiêm Đoàn: “Đòn bánh tét không có quá trình xôn xao gói, nấu cũng giống như tấm huy chương không có lịch sử và bộ quân phục không có chiến công”. Tinh tế hơn, có thể nói bánh tét chợ không thể mang cúng trên bàn thờ gia tiên được. Bởi nó thiếu phân nửa sự thành tâm! Ấy là luận chuyện nhà quê, chứ dân phố chợ thì đành xí xóa “chín bỏ làm mười”. Chưa kể, việc gói đòn bánh tét ngon là cả một kỳ công lẫn năng khiếu, dân gian thường gọi “có hoa tay”.
Tình người chan tình đất
Thật vậy, muốn có bánh ngon như ý trước hết phải chọn nếp ngon phù hợp. Nếp không chỉ tỏa hương thơm thanh khiết mà còn phải có nhiều đặc tính ưu việt khác: dẻo, mịn và không sống sượng khi để lâu hoặc dễ “đổ nhớt” gây ôi thiu. Theo đó, các “thí sinh” nếp đáng xếp hàng “tứ đại mỹ ngọc” có thể kể: nếp nương của đồng bào Tây Bắc, nếp cái hoa vàng ở đồng bằng Bắc bộ, nếp đôi vườn tràu (**) thuộc Phú Yên, nếp sáp của miền Tây.
Xôn xao xuân về!

Chuyện đời bao nông phu lam lũ chắt chiu “phận” nếp thật gian nan, song đẹp lung linh nhưng đượm buồn, như một kết thúc không có “hậu” trong phim tình cảm! Ông Nguyễn Phúc Ưng Viên, ở Gò Vấp, TP. HCM, một nhân chứng và là người hiếm hoi còn lưu giữ được giống nếp đôi quý báu. Nhắc về giống nếp này, thần sắc ông thật tinh anh: “Cu kêu ba tiếng cu kêu/ Kêu cho tới tết dựng nêu ăn chè...”, ông nhái giọng “nẫu” đọc lại câu ca dao cũ, như trẻ nhỏ hồn nhiên hát đồng dao, để mở đầu cho “huyền thoại” nếp tiến vua.
Theo ông Ưng Viên, loại nếp này rất kén đất và cũng kén luôn người trồng. Phải sạ trên ruộng gò và cấy dưới ruộng thấp cùng diện tích, thường chỉ được một - hai sào Trung bộ/nhà. Cạnh ruộng phải có một cái ao để trữ nước mưa hoặc nước suối. Rồi nhà nông phải khòm lưng tát gàu sòng dẫn nước lên ruộng cao lẫn trũng. Những tối trăng thanh, hòa trong tiếng ầm, ào do nước đổ có nhiều điệu hò đối đáp thử lòng, của trai gái đương xuân cất lên. Hòa điệu, thêm đám cây rù rì “vo ve” trong gió.
Chăm bẵm suốt 6 - 8 tháng ròng, không phun hóa chất, họ chỉ bón phân bò, phân trâu, nên khi trổ bông hương nếp thơm lừng cả cánh đồng. Tinh khiết như thế mới có chuyện người ta không tiếc công, mang những vại tương đậu mèo ra đặt trên bờ ruộng để hứng lấy thật nhiều phấn hoa nếp, từ bốn năm giờ sáng.
Rồi giã nếp, sàng gạo cũng toàn thủ công và “ngọc” nếp được “uống” thêm bao câu hò, điệu lý chan chứa tình cảm lứa đôi, tình yêu thôn xóm. Như Hoàng Thi Thơ tả: “Muôncâu hò, hò hò khoan,/ đang mãi vang trong đêm dài, /Gái trai làng chiều hôm nay /đang mãi say theo tiếng chày/ Đêm chơi vơi gạo cười tươi,/ như chuyền hơi ấm, ấm lòng người...” (Gạo Trắng Trăng Thanh).
Những hạt gạo nếp “thánh thiện” như thế chỉ để nấu xôi, chè, gói bánh cúng thần nông, vị thần bảo hộ mùa màng cho cư dân trồng lúa nước hoặc rước ông bà ngày tết hay cúng giỗ chạp, rằm lớn.
Riêng về đòn bánh tét, nhiều người ăn mòn răng vẫn không biết vị tổ là ai.
Bà tổ tài đảm
Nhà báo Ngữ Yên đã trả lời thay: “Đô đốc Bùi Thị Xuân là tác giả của hai bằng sáng chế bánh tráng và bánh tét trong kho tàng ẩm thực Việt, theo một nguồn dật sử cho biết. Để chuẩn bị cho cuộc bôn tập phạt Thanh, Nguyễn Huệ ra lệnh cho viên nữ tướng của mình lo món ăn sao cho không tốn công nấu nướng, không phải dừng ngựa lại để ăn... Còn bánh tét - một cải tiến từ bánh chưng, để dành được lâu hơn - lại được dùng khi quân nghỉ. Vì có ý kiến cho rằng, bánh tét không ăn khi đi đường, đang trên lưng ngựa, vì ăn rồi "nó ở trên cần cổ" còn chạy sao được.” (Món Ăn Trên Lưng Ngựa, trang 100 - 101, trong sách Người Ăn Rong, NXB. Văn Hóa Sài Gòn).
Dọc chiều dài đất nước, từ Nam đèo Ngang đến Mũi Cà Mau, chuyện bánh tét chạy giặc - cứu đói, bánh tét nuôi quân, thường được các bô lão kể lại lúc trà dư tửu hậu. Trong phim Biệt Động Sài Gòn, tái hiện cuộc tổng tiến công xuân Mậu Thân 1968, bánh tét cũng xuất hiện trước tết - hồi trống trận thúc giục đoàn quân cảm tử quyết chiến vì nợ nước, thù nhà!
Tuy nhiên cái thiếu của bánh tét miền Nam hôm nay là không còn thịt heo cỏ để làm nhưn! Heo đẹt, bị lái chê đành nuôi quá lứa để dành đến tết, chia bớt thịt cho bà con làng xóm. Do heo chỉ ăn cám gạo, rau chuối cây... nên thịt thật ngọt thơm, mỡ thì giòn béo và không gây ngấy. Lấy miếng thịt ba rọi lớn hơn ngón tay, “giấu” ở giữa rồi bọc đậu xanh bên ngoài - làm nhưn bánh - lúc thưởng thức, chỉ biết “ngậm mà nghe”!
Thêm một chuyện dở khóc dở cười khác là, giới trẻ ngày nay nghe nói nhờ xắt bánh tét liền đi tìm con dao thật bén để cắt cho “ngọt”. Ăn kiểu này khác nào thẳng tay dìm chết... tươi “hồn” bánh.