Trong các phương thức bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất thì phương thức được áp dụng phổ biến và chiếm ưu thế là phương thức bồi thường bằng giá trị quyền sử dụng tại thời điểm có quyết định thu hồi, hay theo cách nói thông dụng hiện nay là bồi thường "đất bằng tiền”. Phương thức này áp dụng trong trường hợp Nhà nước thu hồi đất nhưng không có quỹ đất khác có cùng mục đích để bồi thường hoặc có nhưng người dân từ chối và chủ động lựa chọn phương thức bồi thường bằng tiền để tự tổ chức cuộc sống và ổn định việc làm. Tuy nhiên, áp dụng phương thức này trên thực tế cũng đã và đang gặp phải nhiều vướng mắc; giữa Nhà nước, nhà đầu tư và người có đất bị thu hồi thường không tìm được tiếng nói chung.
Cơ chế hai giá mà Nhà nước đang áp dụng là một nguyên nhân của những vướng mắc
"Giá đất tính bồi thường là giá đất theo mục đích sử dụng tại thời điểm có quyết định thu hồi đất do UBND cấp tỉnh công bố vào ngày 01 tháng 01 hàng năm theo quy định của Chính phủ, không bồi thường theo giá đất sẽ được chuyển mục đích sử dụng đất sau khi thu hồi, không bồi thường theo giá đất do thực tế sử dụng không phù hợp với mục đích sử dụng đất theo quy định của pháp luật” (Điều 9 NĐ số 197/2004/NĐ- CP).
Theo cách tính bồi thường này thì gặp một vấn đề khó khăn là dù hai khoảng thời gian khác nhau thì giá đất bồi thường vẫn giống nhau mặc dù giá chuyển nhượng ở hai thời điểm này là khác nhau. Ví dụ: UBND tỉnh công bố giá đất vào ngày 1-1-2009 thì lúc này có thể tương đương với giá chuyển nhượng, nhưng đến thời điểm tháng 12-2000 thì giá đất của UBND tỉnh vẫn không thay đổi nhưng trên thực tế giá chuyển nhượng có thể cao hơn nhiều so với giá đất của Ủy ban. Mặc dù Nghị định số 17/NĐ-CP ngày 27 tháng 01 năm 2006 về sửa đổi, bổ sung một số điều của các nghị định hướng dẫn thi hành Luật Đất đai và Nghị định số 187/2004/NĐ-CP về chuyển công ty nhà nước thành công ty cổ phần (gọi tắt là Nghị định số 17/NĐ-CP ngày 27 tháng 01 năm 2006) có điều chỉnh hợp lý hơn, theo đó: "Trường hợp tại thời điểm có quyết định thu hồi đất mà giá bồi thường chưa sát với giá chuyển nhượng quyền sử dụng đất thực tế trên thị trường trong điều kiện bình thường thì UBND tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương quyết định giá đất cho phù hợp”. Với sự điều chỉnh này, nếu về hình thức thì chúng đã được thay đổi theo hướng có lợi cho người có đất bị thu hồi, không còn hiện tượng áp dụng một mức giá được công bố ngày 01 tháng 01 hàng năm, có thể thời điểm khác nhau nhưng UBND tỉnh có thể điều chỉnh giá bồi thường để sát với giá chuyển nhượng. Tuy nhiên thực tế, nếu xem xét kỹ sẽ thấy có sự khó khăn trong việc áp dụng quy định này bởi lẽ, "sát” là một thuật ngữ mang tính trừu tượng, định tính, rất khó định lượng cụ thể. Trong khi điều luật lại không quy định rõ thế nào là "sát”. Điều này chắc chắn sẽ tạo ra sự tùy tiện trong thực hiện pháp luật.
Thực tế hiện nay, hầu hết chính quyền cấp tỉnh ban hành khung giá đất mới chỉ bằng 50% đến 70% giá thị trường, chưa thực sự là giá thị trường. Vì vậy, khi áp dụng để tính giá bồi thường, hỗ trợ khi Nhà nước thu hồi đất thì đa số thấp hơn giá mà người sử dụng đất chuyển nhượng trên thị trường. Đây chính là một nguyên nhân người dân thường khiếu nại, thậm chí phản đối trước các quyết định thu hồi đất của Nhà nước. Theo phân loại nội dung khiếu kiện về bồi thường, giải phóng mặt bằng thì đến 70% số trường hợp khiếu kiện về giá đất, mà chủ yếu cho rằng, giá đất nông nghiệp tính bồi thường quá thấp, 26% là khiếu kiện về việc đã bị thu hồi đất trước đây mà chưa được bồi thường hoặc đã được bồi thường nhưng giá quá thấp, 3% là khiếu kiện về việc không bố trí tái định cư khi thu hồi toàn bộ đất ở và 1% khiếu kiện về tiêu cực trong tổ chức thực hiện bồi thường. Đây cũng là nguyên nhân dẫn đến tình trạng đa số các dự án Nhà nước thu hồi cho các công trình của Nhà nước thường sử dụng bằng biện pháp cưỡng chế mới có thể có được mặt bằng, chứ không thể chờ sự tự nguyện, tự giác của người dân.
Điều bất cập hơn là, nếu Nhà nước thu hồi đất để chuyển sang các mục đích khác thì Nhà nước áp dụng khung giá đất của Nhà nước để tính bồi thường; song cũng ở vị trí, địa bàn đó sau khi Nhà nước quy hoạch thành đất đô thị, đất kinh doanh mà người dân có nhu cầu sử dụng lại phải chấp nhận chuyển nhượng lại đất đó từ các chủ đầu tư theo giá thị trường, cao hơn gấp nhiều lần so với giá mà họ được nhận về từ Nhà nước. Đây cũng là một bất cập gây nên sự bất bình cho người dân.
Chưa có chính sách nhất quán
Theo pháp luật hiện hành thì đối với trường hợp Nhà nước thu hồi đất sử dụng vào mục đích quốc phòng, an ninh, lợi ích quốc gia, công cộng và vì mục tiêu phát triển kinh tế thì Nhà nước ban hành và quyết định mức bồi thường cho người dân; song đối với các dự án đầu tư thì Nhà nước cho phép nhà đầu tư được thỏa thuận, thương thảo với người dân về mức bồi thường. Chính quy định này cũng đã và đang gây nên những bất đồng, mâu thuẫn của những người dân có đất bị thu hồi. Cụ thể, nếu trên cùng một địa bàn, một vị trí mà Nhà nước quy hoạch đất cho các công trình của quốc phòng, an ninh, quốc gia, công cộng thì Nhà nước áp giá bồi thường của Nhà nước và thường là thấp hơn nhiều so với giá thị trường. Trong khi đó, cũng cùng vị trí, địa bàn đó, đối với những dự án đầu tư mà Nhà nước cho phép chủ đầu tư được quyền thương thảo với dân về mức bồi thường thì người dân thường đòi hỏi mức bồi thường theo giá thị trường và giá này cao hơn nhiều so với giá Nhà nước bồi thường. Thiết nghĩ, nếu Nhà nước áp dụng thống nhất một giá là giá thị trường trong việc điều chỉnh giá đất ở mọi quan hệ sẽ không xảy ra những tình trạng nêu trên.
Các chính sách hỗ trợ khác- thực hiện nửa vời...
Theo pháp luật hiện hành: Trường hợp thu hồi đất của hộ gia đình, cá nhân trực tiếp sản xuất nông nghiệp mà không có đất để bồi thường cho việc tiếp tục sản xuất thì ngoài việc được bồi thường bằng tiền, người bị thu hồi còn được Nhà nước hỗ trợ để ổn định đời sống, đào tạo chuyển đổi ngành nghề, bố trí việc làm mới. Quy định là vậy, song trên thực tế, việc thực hiện của chính quyền địa phương và các chủ đầu tư vẫn còn nửa vời và không nhất quán. Nhiều nơi, nhiều chỗ, quy định này dường như chỉ tồn tại trên giấy. Cụ thể, chính sách hỗ trợ để ổn định đời sống không thực sự đảm bảo quyền lợi và không đủ bù đắp những thiệt thòi mà người dân phải đối mặt; chưa kể họ phải đối mặt với việc giá cả tăng cao do ảnh hưởng của những dự án mà Nhà nước quy hoạch ở khu vực liền kề với nơi ở của họ. Đối với vấn đề đào tạo và chuyển đổi ngành nghề, bố trí việc làm mới thì quy định này cũng mới chỉ dừng lại ở chủ trương mà chưa phát huy trên thực tế. Trong trường hợp này, không rõ trách nhiệm thuộc về UBND các cấp hay Sở Lao động - Thương binh - Xã hội, hay các doanh nghiệp, các chủ đầu tư được giao, cho thuê đối với diện tích đất của người dân bị thu hồi? Vấn đề này pháp luật dường như bỏ ngỏ. Trên thực tế, chỉ các doanh nghiệp có nhu cầu sử dụng lao động phổ thông thì khi thu hồi đất họ mới cam kết nhận con em của người có đất bị thu hồi làm công nhân cho họ. Còn vấn đề đào tạo để bố trí việc làm tại các doanh nghiệp thì dường như các doanh nghiệp từ chối. Chính quyền địa phương cũng không thể bắt ép họ buộc phải làm điều này, cũng không có cơ chế nào ràng buộc họ phải thực hiện. Như vậy, suy cho cùng, người có đất bị thu hồi vẫn là người chịu thiệt thòi nhất, cơ bản họ vẫn phải tự xoay xở, lo liệu cho cuộc sống, việc làm của chính họ. Trước thực trạng này, pháp luật trong thời gian tới cần phải quy định rõ ràng, cụ thể mức độ chịu trách nhiệm và sự phối hợp của các cơ quan chức năng, chính quyền địa phương, nhà đầu tư trong việc giải quyết chính sách hỗ trợ, đào tạo nghề và tạo việc làm mới cho người dân mất đất, mất việc làm.
Trên đây là một số những vướng mắc, bất cập được nhìn nhận từ sự nghiên cứu pháp luật thực định, kết hợp với sự quan sát quá trình tổ chức triển khai trên thực tế. Hy vọng, những vướng mắc và bất cập đó sẽ được nghiêm túc nhìn nhận và có sự điều chỉnh kịp thời trong thời gian tới.
Cơ chế hai giá mà Nhà nước đang áp dụng là một nguyên nhân của những vướng mắc
"Giá đất tính bồi thường là giá đất theo mục đích sử dụng tại thời điểm có quyết định thu hồi đất do UBND cấp tỉnh công bố vào ngày 01 tháng 01 hàng năm theo quy định của Chính phủ, không bồi thường theo giá đất sẽ được chuyển mục đích sử dụng đất sau khi thu hồi, không bồi thường theo giá đất do thực tế sử dụng không phù hợp với mục đích sử dụng đất theo quy định của pháp luật” (Điều 9 NĐ số 197/2004/NĐ- CP).
Theo cách tính bồi thường này thì gặp một vấn đề khó khăn là dù hai khoảng thời gian khác nhau thì giá đất bồi thường vẫn giống nhau mặc dù giá chuyển nhượng ở hai thời điểm này là khác nhau. Ví dụ: UBND tỉnh công bố giá đất vào ngày 1-1-2009 thì lúc này có thể tương đương với giá chuyển nhượng, nhưng đến thời điểm tháng 12-2000 thì giá đất của UBND tỉnh vẫn không thay đổi nhưng trên thực tế giá chuyển nhượng có thể cao hơn nhiều so với giá đất của Ủy ban. Mặc dù Nghị định số 17/NĐ-CP ngày 27 tháng 01 năm 2006 về sửa đổi, bổ sung một số điều của các nghị định hướng dẫn thi hành Luật Đất đai và Nghị định số 187/2004/NĐ-CP về chuyển công ty nhà nước thành công ty cổ phần (gọi tắt là Nghị định số 17/NĐ-CP ngày 27 tháng 01 năm 2006) có điều chỉnh hợp lý hơn, theo đó: "Trường hợp tại thời điểm có quyết định thu hồi đất mà giá bồi thường chưa sát với giá chuyển nhượng quyền sử dụng đất thực tế trên thị trường trong điều kiện bình thường thì UBND tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương quyết định giá đất cho phù hợp”. Với sự điều chỉnh này, nếu về hình thức thì chúng đã được thay đổi theo hướng có lợi cho người có đất bị thu hồi, không còn hiện tượng áp dụng một mức giá được công bố ngày 01 tháng 01 hàng năm, có thể thời điểm khác nhau nhưng UBND tỉnh có thể điều chỉnh giá bồi thường để sát với giá chuyển nhượng. Tuy nhiên thực tế, nếu xem xét kỹ sẽ thấy có sự khó khăn trong việc áp dụng quy định này bởi lẽ, "sát” là một thuật ngữ mang tính trừu tượng, định tính, rất khó định lượng cụ thể. Trong khi điều luật lại không quy định rõ thế nào là "sát”. Điều này chắc chắn sẽ tạo ra sự tùy tiện trong thực hiện pháp luật.
Thực tế hiện nay, hầu hết chính quyền cấp tỉnh ban hành khung giá đất mới chỉ bằng 50% đến 70% giá thị trường, chưa thực sự là giá thị trường. Vì vậy, khi áp dụng để tính giá bồi thường, hỗ trợ khi Nhà nước thu hồi đất thì đa số thấp hơn giá mà người sử dụng đất chuyển nhượng trên thị trường. Đây chính là một nguyên nhân người dân thường khiếu nại, thậm chí phản đối trước các quyết định thu hồi đất của Nhà nước. Theo phân loại nội dung khiếu kiện về bồi thường, giải phóng mặt bằng thì đến 70% số trường hợp khiếu kiện về giá đất, mà chủ yếu cho rằng, giá đất nông nghiệp tính bồi thường quá thấp, 26% là khiếu kiện về việc đã bị thu hồi đất trước đây mà chưa được bồi thường hoặc đã được bồi thường nhưng giá quá thấp, 3% là khiếu kiện về việc không bố trí tái định cư khi thu hồi toàn bộ đất ở và 1% khiếu kiện về tiêu cực trong tổ chức thực hiện bồi thường. Đây cũng là nguyên nhân dẫn đến tình trạng đa số các dự án Nhà nước thu hồi cho các công trình của Nhà nước thường sử dụng bằng biện pháp cưỡng chế mới có thể có được mặt bằng, chứ không thể chờ sự tự nguyện, tự giác của người dân.
Điều bất cập hơn là, nếu Nhà nước thu hồi đất để chuyển sang các mục đích khác thì Nhà nước áp dụng khung giá đất của Nhà nước để tính bồi thường; song cũng ở vị trí, địa bàn đó sau khi Nhà nước quy hoạch thành đất đô thị, đất kinh doanh mà người dân có nhu cầu sử dụng lại phải chấp nhận chuyển nhượng lại đất đó từ các chủ đầu tư theo giá thị trường, cao hơn gấp nhiều lần so với giá mà họ được nhận về từ Nhà nước. Đây cũng là một bất cập gây nên sự bất bình cho người dân.
Chưa có chính sách nhất quán
Theo pháp luật hiện hành thì đối với trường hợp Nhà nước thu hồi đất sử dụng vào mục đích quốc phòng, an ninh, lợi ích quốc gia, công cộng và vì mục tiêu phát triển kinh tế thì Nhà nước ban hành và quyết định mức bồi thường cho người dân; song đối với các dự án đầu tư thì Nhà nước cho phép nhà đầu tư được thỏa thuận, thương thảo với người dân về mức bồi thường. Chính quy định này cũng đã và đang gây nên những bất đồng, mâu thuẫn của những người dân có đất bị thu hồi. Cụ thể, nếu trên cùng một địa bàn, một vị trí mà Nhà nước quy hoạch đất cho các công trình của quốc phòng, an ninh, quốc gia, công cộng thì Nhà nước áp giá bồi thường của Nhà nước và thường là thấp hơn nhiều so với giá thị trường. Trong khi đó, cũng cùng vị trí, địa bàn đó, đối với những dự án đầu tư mà Nhà nước cho phép chủ đầu tư được quyền thương thảo với dân về mức bồi thường thì người dân thường đòi hỏi mức bồi thường theo giá thị trường và giá này cao hơn nhiều so với giá Nhà nước bồi thường. Thiết nghĩ, nếu Nhà nước áp dụng thống nhất một giá là giá thị trường trong việc điều chỉnh giá đất ở mọi quan hệ sẽ không xảy ra những tình trạng nêu trên.
Các chính sách hỗ trợ khác- thực hiện nửa vời...
Theo pháp luật hiện hành: Trường hợp thu hồi đất của hộ gia đình, cá nhân trực tiếp sản xuất nông nghiệp mà không có đất để bồi thường cho việc tiếp tục sản xuất thì ngoài việc được bồi thường bằng tiền, người bị thu hồi còn được Nhà nước hỗ trợ để ổn định đời sống, đào tạo chuyển đổi ngành nghề, bố trí việc làm mới. Quy định là vậy, song trên thực tế, việc thực hiện của chính quyền địa phương và các chủ đầu tư vẫn còn nửa vời và không nhất quán. Nhiều nơi, nhiều chỗ, quy định này dường như chỉ tồn tại trên giấy. Cụ thể, chính sách hỗ trợ để ổn định đời sống không thực sự đảm bảo quyền lợi và không đủ bù đắp những thiệt thòi mà người dân phải đối mặt; chưa kể họ phải đối mặt với việc giá cả tăng cao do ảnh hưởng của những dự án mà Nhà nước quy hoạch ở khu vực liền kề với nơi ở của họ. Đối với vấn đề đào tạo và chuyển đổi ngành nghề, bố trí việc làm mới thì quy định này cũng mới chỉ dừng lại ở chủ trương mà chưa phát huy trên thực tế. Trong trường hợp này, không rõ trách nhiệm thuộc về UBND các cấp hay Sở Lao động - Thương binh - Xã hội, hay các doanh nghiệp, các chủ đầu tư được giao, cho thuê đối với diện tích đất của người dân bị thu hồi? Vấn đề này pháp luật dường như bỏ ngỏ. Trên thực tế, chỉ các doanh nghiệp có nhu cầu sử dụng lao động phổ thông thì khi thu hồi đất họ mới cam kết nhận con em của người có đất bị thu hồi làm công nhân cho họ. Còn vấn đề đào tạo để bố trí việc làm tại các doanh nghiệp thì dường như các doanh nghiệp từ chối. Chính quyền địa phương cũng không thể bắt ép họ buộc phải làm điều này, cũng không có cơ chế nào ràng buộc họ phải thực hiện. Như vậy, suy cho cùng, người có đất bị thu hồi vẫn là người chịu thiệt thòi nhất, cơ bản họ vẫn phải tự xoay xở, lo liệu cho cuộc sống, việc làm của chính họ. Trước thực trạng này, pháp luật trong thời gian tới cần phải quy định rõ ràng, cụ thể mức độ chịu trách nhiệm và sự phối hợp của các cơ quan chức năng, chính quyền địa phương, nhà đầu tư trong việc giải quyết chính sách hỗ trợ, đào tạo nghề và tạo việc làm mới cho người dân mất đất, mất việc làm.
Trên đây là một số những vướng mắc, bất cập được nhìn nhận từ sự nghiên cứu pháp luật thực định, kết hợp với sự quan sát quá trình tổ chức triển khai trên thực tế. Hy vọng, những vướng mắc và bất cập đó sẽ được nghiêm túc nhìn nhận và có sự điều chỉnh kịp thời trong thời gian tới.
0 nhận xét:
Đăng một Nhận xét