Quảng Bình có danh làng Quảng Xá (Tân Ninh, Quảng Ninh) nức tiếng cả vùng bởi khai sinh vị quốc sư dạy vua. Tết về mảnh làng bên dòng sông Kiến Giang thấy đất làng nườm nượp đông vui, đờn ca xướng hát rộn rã đêm ngày, bao trò chơi nơi nơi quần hội từ xóm trên ngõ dưới. Nhưng đặc sản của làng đang lưu truyền hơn mười ngàn câu thơ ca, hò vè…mọi người đều ngâm ngợi đang làm cho ngày xuân thêm tươi thắm.
| Đầu năm con trẻ đến sân làng nghe học làm người. |
Đầu năm dạy làm người
Dân khắp vùng Quảng Bình không làng nào không biết đến hương làng Quảng Xá bởi làng có vị quốc sư khác người. Vị quốc sư ấy có tên Nguyễn Nhuận. Ông là nhà nho uyên thâm, đạo đức cao đẹp. Ba lần thi cử, ông chọn cách thi lần đầu làm bài không đến nơi đến chốn nhằm bị trượt để về quê phụ mẹ cha ruộng vườn, lần thứ hai ông làm bài thi vừa phải nhằm giúp sức cho bạn bè đỗ đạt là cách trả công ơn nghĩa những học trò cùng trang đã giúp ông. Lần thứ ba, đi ứng thí, người cậu ở làng nói lần này ứng thí, phải đậu, tiếng tăm giỏi, nhân cách hay mà không thành là sao. Nếu đậu được làng thường 50 quan tiền. Học trò Nguyễn Nhuận vào kinh đô Huế ứng thí, ông đỗ đạt. Văn chương tài hoa, vua Tự Đức mời ông vào cung dạy hoàng tử Ưng Lịch, sau là vua Hàm Nghi. Thầy đồ Nguyễn Nhuận làm quốc sư, không luồn cúi, bài vỡ lòng dạy hoàng tử là nhân cách làm người. Nghe kể, hoàng tử vốn có tính nuông chiều, ai cũng cung cúc theo. Riêng quốc sư Nguyễn Nhuận nhất mực rèn tính rèn đức. Ông dạy rằng: “Ta vốn con nhà nghèo, theo lễ nghĩa, trí đức mà nên người. Con vua muốn thành người, cũng lấy lễ nghĩa, trí đức rèn mài mới thương dân trăm họ. Quyền quý bao nhiêu thì phải càng mài dũa bấy nhiêu mới trở thành quân tử”. Vua Tự Đức nghe vậy giận lắm, bởi ông dám nói con vua cũng phải khuôn phép. Nhưng ông giải thích cặn kẽ, muốn yêu dân, con vua cũng phải học. Có tôi trung mới có vua minh. Tự Đức nghe thuận, để ông dạy hoàng tử theo hồn cốt nên người của Nguyễn Nhuận và Hàm Nghi đã trở thành một ông vua yêu nước.
| Thầy giáo Dương Viết Thủ với bộ sưu tập thơ ca hò vè của làng. |
Làng ông thấm đẫm lời truyền ấy, mỗi đầu năm, giữa sân làng, các cụ phụ lão ôn cố lại lời ông, muốn làm việc đời phải học làm người. Các xóm cắt cử người uy tín, giảng giải việc học là để làm người mới phụng sự việc khác, không làm được cốt cách con người, tâm tính lệch lạc, cuộc sống hỏng hóc. Người giáo già Dương Viết Thủ khẳng định: “Làng Quảng Xá nổi tiếng có người dạy vua, nhưng dạy ai, làm gì thì cũng phải dạy cách làm người, đó là cách con dân của làng lớn lên theo năm tháng. Bởi vậy mà đầu năm, nhà nào, xóm nào cũng bảo con cái cách ứng xử đối đãi lấy thương yêu làm trọng”.
Thú vị hương sử ca
Hương thôn Quảng Xá sáng ngời hơn khi truyền khẩu 450 năm nay bản lịch sử làng bằng bài Hương sử ca qua các câu thơ theo thể song thất lục bát trứ danh. Thể thơ bác học ấy được người làng mềm mại hoá bằng những giai âm dễ nghe, dễ nhớ từ ngày đầu lập làng đến nay. Nó đi vào lòng người như “Cung oán ngâm khúc” của Nguyễn Gia Thiều hay “Chinh phụ ngâm” của Đoàn Thị Điểm. Tết về làng, gặp mười người, đã có bảy tám người bàn về Hương sử ca. Người giáo già Dương Viết Thủ nói: “Hương sử ca của làng là sản phẩm phi vật thể độc đáo, bao danh đất, tên xóm, tên đồng được định hình qua hương sử ca, bao dấu ấn về cách bản quán ra đời, phát triển. Cỏ cây, tôm cá của làng ngời ngợi trong từng đoạn, từng khúc, thấm vào thời gian như máu như thịt”.
Nói về hương sử ca làng Quảng Xá, cây đại thụ nghiên cứu văn hoá dân gian Quảng Bình, cụ Nguyễn Tú từng nói mấy năm trước rằng: “Đây là bản hương sử ca duy nhất của một làng đầy chất văn học, đọc lên như thấy được truyền thống làng Việt của miền Bắc giữa vùng cát chang chang. Bản hương sử ca này có một không hai, không làng nào làm được bản thứ hai. Câu từ trong đó tuy chỉ về một làng nhưng tính bác học hết sức trau chuốt, chứng tỏ những người làm hương sử ca thông tuệ chữ nghĩa và thể loại văn chương cổ”.
| Chơi đu xuân của làng Quảng Xá. |
Chúng tôi cầm trên tay từ những bậc cao niên của làng bản Hương sử ca như cầm vật quý. Nâng niu giữa nghi ngút khói hương ngày Tết. 164 câu song thất lục bát đối nhau nhịp điệu, đọc lên thắm thiết rộn ràng. Mở đầu bằng hai câu giới thiệu hết sức kiêu hãnh: “Làng Quảng xá là làng trù mật/Cách phong lưu văn vật ai tày”. Họ tự hào làng có nhiều nghề như giới thiệu: “Tuy muôn dặm nước non cách trở/Đã thu lời khắc cả tây đông/Bốn nghề nhất sĩ nhì nông/Tam công tứ cổ đủ trong làng này”. Vui nhất là ngày Tết, người làng ngâm ngợi: “Những ngày xuân, tiết, tất niên/ Con sau cháu trước mọi miền về thăm/ Đu thường lệ mỗi năm một nhún/Ba ngày xuân ăn uống vui vầy/Bài chòi, bài ghế, lôi dây/Bỏ công vất vả những ngày nắng mưa”. Đọc hết bản Hương sử ca bên hương án ngày Tết giữa không khí làng vui chơi mới thấy làng quả là đất của “cách phong lưu văn vật ai tày”.
Di sản vô giá khác
Nhưng càng du xuân vào sâu với làng càng khám phá thú vị rằng, mảnh đất của chưa đầy một ngàn nhân khẩu này còn một di sản thơ ca, hò, vè, hát đối độc đáo vô cùng với hơn mười ngàn câu đang truyền tụng lớp lớp nơi đây. Người Quảng Xá ai cũng thích hát, thích sáng tác thơ ca, hò vè, thành ra làng lúc nào cũng vui. Họ sáng tác từ nhà ra đồng, từ đồng về chợ, ra đình, ra sân làng. Lúc nào hứng chí họ sáng tác và truyền khẩu nhau. Không kể già trẻ, gái trai, thông minh, giang dở, ai ai cũng có quyền đặt thơ làm vè để truyền thống làng ngày thêm bồi đắp, cho con cháu lớn lên nhân văn. Thầy giáo Dương Viết Thủ, người dày công chép lại những thơ, những vè, những câu hát ru qua từng quyển tập đã xúc động rằng: “Mảnh làng tui đây, mỗi năm đến Tết, nhiều người ngâm ngợi thơ ca. Không sáng tác được thì đọc đồng dao, đọc lối nói râm ran từng xóm ngõ. Vậy nên làng nổi tiếng trong vùng là thế”. Người làng đi xa thường đọc bài thơ của làng làm ra với nỗi nhớ những dần, sàng, sản vật quê mùa hay đồng lúa chiêm trũng. Họ tài hoa hết mực khi đưa thứ cục mịch vào thơ nhớ làng: “Đi mô cũng nhớ làng miềng (mình)/ Nhớ Lùm, nhớ Ếc, nhớ Kêng, nhớ Nà/Nhớ mả Họ, nhớ mả Ca/Nhớ Đôồng, nhớ Trôổng, nhớ qua Nương Bòn/Nhớ trường, nhớ chợ chiều hôm/Nhớ đình, nhớ điện, nhớ luôn mái chùa/Nhớ khoai, nhớ rạm, nhớ dưa/Nhớ nơm, nhớ rớ, nhớ cừa, nhớ đa”. Người làng cũng lãng mạn với bao đêm: “Nhớ đêm trăng, nhớ hát hò/Nhớ chày giả gạo, nhớ o nhân tình”. Nhưng trong năm tháng khó khăn, sinh con nhiều, người làng cũng trào lộng mình: “Vui chi mà hát mà hò/Con thì đứa bớt, đứa bò sau lưng”.
| Một góc làng có Hương sử ca độc đáo. |
Với khuôn khổ bài báo nhỏ này, không thể kể hết thơ ca, hò vè tài hoa của người làng, xin chép một bài thơ nhỏ kiểu cách Quảng Xá để thấy cái hay chữ ở đây: “Ra về răng được mà về/Anh nắm vạt áo anh đề câu thơ/Câu thơ ba chữ rành rành/Chữ trung, chữ hiếu, chữ tình là ba/Chữ trung anh để phần cha/Chữ hiếu phần mẹ, đôi ta chữ tình”.
Một nhà sử học ở Huế từng nói rằng: “Một làng có bản Hương sử ca, một làng có di sản thơ ca, hò vè, đa dạng như cuộc sống, một làng đầy đủ nếp phong lưu cất giữ đời đời mấy trăm năm như Quảng Xá, chắc chắn làng đó nổi tiếng khắp nơi, con người ở đó sống thuận hoà, xóm trên ngõ dưới đồng tâm hiệp lực xây dựng làng mới tươi”.
Và đúng là mảnh làng nhỏ bé rơm rạ ấy đã có ngót nghét cả ngàn giáo viên qua nhiều thế hệ, và cũng sinh ra đến năm nhạc sĩ nổi tiếng cả nước…Mấy trăm năm không trộm cắp. Và đây là mảnh làng đầu tiên của Quảng Bình được phong tặng là làng văn hoá cấp tỉnh từ nhiều năm qua. Một lần du xuân về làng này, mới thấy truyền thống làng quyện chặt với khí thế xây dựng nông thôn mới đang bừng bừng ở đây.
Cu Làng Cát
Trời, làng quê nội tôi đây mà. Cảm ơn đồng hương.
Trả lờiXóaChỉ buồn một điều: Làng mất hẳn sự ấm cúng vì chẳng còn chùa chiền.
Sao bác không có cho danh tên bác cái nhỉ? Năm mới cho biết nhau cái nhé.
XóaĐùa 1 chút : Đúng là "...nghe học làm người"! Cái loa thùng to tổ bố TRÊN bàn thì cần chi ông thầy đồ ngồi phía sau nữa ?
Trả lờiXóaNghe học làm người thời ni có khác chút là âm thanh wifi mà bác.
XóaHề hề.
Nhận xét này đã bị quản trị viên blog xóa.
Trả lờiXóaBác cứ email cho cu là được
XóaNguyễn Kiến Giang sinh ngày 22-1-1931 tại một làng quê Quảng Bình bên con sông Kiến Giang.
Xóahttp://vietsuky.wordpress.com/2012/01/26/59-hoc-gia-nguyen-kien-giang/
Đó chính là làng ni đây, Cu Làng Cát à.
Quảng xá còn nhiều hò vè hay lắm em cố gắng về sưu tập nhé. Rất muốn nghe những bài đại khái....là như vậy. Có điều kiện gặp nhau tiếp chú mấy ly rượu gạo...mà phải nói làng choa mới oai nhé. ông Lập dùng quê choa oai như cóc. hi hi.
Trả lờiXóaDạ, làng choa nhiều hò vè, hương sử ca cũng hay. Không biết bác nói oai như cóc là cho vui mồm hay có ý đồ gì. Vì dù sao nhà văn Nguyễn Quang Lập đã lớn tuổi, lại nữa, đó là niềm tự hào quê hương Quảng Bọ rất lớn thưa bác.
XóaUi cha ngày mô tui cũng ghé thăm blog Bọ Lập cả,không có ý đồ chi mô. Tui đang ở Hải phòng nhưng thấy dân tình họ lo làm ăn và tung hô Ông Thành lên mây, bài viết trên blog Bọ nói hơi quá... mong mọi người đừng hùa theo nói leo thêm nữa....
Trả lờiXóaÔng này đi bảo vệ ông Thành, e bị điên. Không coi vedeo clip à?
XóaE điên thiệt ông Nặc danh a,cả Hải phòng ni đều điên như như tui cả . Thu nhập bình quân Hải phòng đứng thứ 3 sau Thành phố HCM và Hà nôi thôi "điên" như rứa cũng nên "điên" , thực tế một chút đi đừng a dua...
XóaHải Phòng thu nhập bình quân thua Đà Nẵng, Cần Thơ, Bà Rịa-Vũng Tàu, Biên Hòa (Đồng Nai), Bình Dương...Bác không nên ôm đồm khi chưa hiểu. Hơn nữa, ông Thành không phải tạo ra thành tích thu nhập cho dân Hải Phòng mà nền tảng Hải Phòng tự tạo ra, ông Thành là lãnh đạo hậu thế, cái clip là một vết nhọ rất xấu với bô lão cách mạng và cả nước.
Trả lờiXóaThưa các bác, bài này để còm những lời về vị dạy vua, làng của bậc dạy vua, không nên còm chuyện ông Thành vào chỗ này, không hay. Mời các bác ra các entry liên quan Tiên Lãng, Hải Phòng, ông Thành để cùng nói chuyện, Cu Làng Cát có các entry liên quan việc này, ở không gian của bậc dạy vua không bàn chuyện phàm phu của ông Thành, bác Vinh, bác Nặc Danh nhé, nhé nhé.
Trả lờiXóaCũng nhắc bác vinh nào đó có gốc Quảng Xá là xem lại thu nhập bình quân đầu người của Hải Phòng có đúng thứ ba sau Sài Gòn, Hà Nội không ợ?
XóaSorry! Trật ray hết rồi, Đường ngang nhiều quá.
Xóa